: toasoandko@gmail.com | : (04) 38.228.302
Liên hệ quảng cáo: (04)39.431.943 - (04)39.447.011
09:00:06 - Thứ bảy, 13/04/2019

Đặc tính Việt - Tài nguyên tạo nên thương hiệu quốc gia

LTS: Gần đây, cụm từ thương hiệu quốc gia hay được nhắc đến. Thảo luận về những vấn đề định hình và xây dựng thương hiệu quốc gia, nhiều diễn giả đều cho rằng, thương hiệu quốc gia sẽ là một loại tài nguyên mới, là động lực cho sự phát triển của Việt Nam trong tương lai.

Thương hiệu quốc gia được hình thành ở nhiều lĩnh vực, trong đó quan trọng nhất vẫn là từ văn hóa, giáo dục đến con người… Vậy mà thời gian qua, liên tiếp những vụ bạo lực học đường, những lệch chuẩn trong nhận thức, lệch chuẩn trong ứng xử của giới trẻ, sự thay đổi những giá trị sống… khiến người ta không khỏi băn khoăn: Thực trạng ấy có nguyên nhân từ đâu? Tuy mỗi người có những phân tích khác nhau, nhưng nhiều chuyên gia mà chúng tôi gặp gỡ cùng có chung một nhận định rằng: Môi trường sống tạo nên năng lực và phẩm chất của mỗi con người. Một khi người lớn thực dụng, người lớn quên đi những giá trị văn hóa truyền thống của gia đình, của dân tộc; lơ là với những giá trị đạo đức, thì cái gì đến, ắt sẽ đến.

Đặc tính Việt - Tài nguyên tạo nên thương hiệu quốc gia

GS.TS Nguyễn Lộc.

GS.TS Nguyễn Lộc, Phó Hiệu trưởng trường ĐH Nguyễn Tất Thành:

Cốt lõi vẫn là mối quan hệ gia đình - nhà trường - xã hội

Theo GS.TS Nguyễn Lộc, giáo dục trong bối cảnh mới, khi người ta mải chạy theo các thành tích khác, cách giáo dục khác mà quên mất giáo dục đạo đức, nhân tâm cho con người thì tất yếu sẽ xảy ra bạo lực, không cần chờ đến xích mích trên mạng.

PV: Thưa ông, chưa nói đến việc dạy đạo đức, lối sống cho học sinh, có ý kiến cho rằng ngay trong môi trường sư phạm, các nhà trường cũng đang chú trọng dạy giáo viên tri thức nhiều hơn là dạy những kiến thức đào tạo về tâm lý, tư vấn tâm lý, giáo dục kỹ năng cho học trò? 

GS.TS Nguyễn Lộc: Dạy về đạo đức, chuẩn mực, thái độ là vô cùng quan trọng. Nhà trường chỉ đảm nhận một phần thôi. Xã hội đảm nhận rất nhiều.

Nếu xét riêng nhà trường, giả dụ có 10 phần về đạo đức thì nhà trường chịu 1 phần không thành công, còn 9 phần chia cho xã hội, công nghệ, gia đình... Ở đây, nhà trường rõ ràng cũng không hoàn thành vai trò của mình. Nhưng nói cụ thể, nhà trường cũng là một mô hình thu nhỏ của xã hội, vẫn chạy theo thành tích, thi cử, học tập... Tất cả là các môn toán - lý - hóa - văn - sử - địa... , tất cả những điều đó thuộc về kiến thức. Các em biết được đất nước rộng bao nhiêu, điều đó tốt cho cuộc sống, biết về hình học không gian, về cộng trừ nhân chia cũng rất cần thiết… Nhưng tình yêu thương, lòng vị tha... thì khó hơn nhiều. Dạy cho các em những điều này là một quá trình đòi hỏi thời gian, phương pháp phải tốt, trước hết cần có sự đầu tư của nhà trường, xong rồi đến kết hợp hài hòa với xã hội và gia đình. 

Thời gian gần đây, chúng ta bàn nhiều đến những thói quen xấu, tính cách xấu xí của người Việt. Đó chính là vấn đề đạo đức. Người ta nói nhiều đến bản chất của người Việt Nam, không phải đâu. Do giáo dục mà nên. 

Một ví dụ như chuyện xếp hàng, tại sao người Việt lại hay chen lấn lên trước? Vì họ không có niềm tin vào việc xếp hàng sau người này thì chưa chắc đến lượt tôi sẽ kịp đúng giờ. Người ta tranh nhau lên vì sợ sẽ mất lượt. Còn người Nhật chẳng hạn, họ xếp hàng vì họ tin là thế nào cũng sẽ có phần và đúng phần họ đang cần. Như thế ít nhiều thói quen chen lấn là do niềm tin vào xã hội đang bị xói mòn. 

Ông vừa nói đến đặc tính của người Việt?

- Tôi cho rằng đó không phải là đặc tính Việt đâu. Đó là tình trạng đạo đức của người Việt Nam, mọi người thấy nó xấu thì bảo đó là thói xấu của người Việt. Nhưng thực ra không phải. Người Việt sống lâu ở nước ngoài, hoặc ở những nơi không có thói quen xấu thì cũng sẽ học được phải xếp hàng, cũng học được việc bước ra ngoài đường là nhìn trước ngó sau, hạn chế những việc làm gây ảnh hưởng đến người khác... 

Việc cư xử chưa văn minh như vậy, như ông nói là bắt đầu từ nhà trường giáo dục chưa tốt, khi ra xã hội nhìn thấy những cư xử chưa đúng mực, bố mẹ cũng chưa đủ làm gương?

- Đúng thế! 

Nếu bắt nguồn từ giáo dục, nhìn từ những vụ học sinh thi hành lệnh cô giáo tát bạn đến nhập viện... có lý do là vì học sinh của chúng ta chưa dám phản biện với giáo viên, chưa dám phản biện lại trước những việc làm sai dù lặp đi lặp lại nhiều lần. Ý kiến của ông ra sao?

- Đó cũng là một góc nhìn. Không dám phản biện lại giáo viên, đó vừa là ảnh hưởng của giáo dục, vừa là ảnh hưởng của xã hội khi trước đây chúng ta bị ảnh hưởng sâu rộng của Nho giáo. Ví dụ con phải nghe bố mẹ. Thần dân phải nghe vua. Trò phải nghe thầy. Nó bắt nguồn từ các giá trị đã tồn tại, bắt rễ từ lâu trong tiềm thức của người Việt. Làm sao với một hệ giá trị đã truyền từ xã hội đến học trò, nhà trường đến học trò, gia đình đến học trò... có thể khiến các em ngay lập tức đổi khác được? 

Các em vẫn quen tuân thủ một giá trị như vậy. Nên ai đó tự nhiên phản biện lại điều đó, thực sự họ sẽ khó có đất tồn tại. 

Ví dụ, trong lý thuyết quản lý của nhà trường, để nhận xét một giáo viên, phải lấy ý kiến của toàn trường, trước hết là ý kiến của hiệu trưởng, của ban giám hiệu, rồi các giáo viên khác, rồi đến học trò... Đánh giá theo 360 độ, một vòng tròn khép kín. Ở phương Tây có lẽ được, nhưng ở Việt Nam không thành công do trò không dám nhận xét thầy. Mặc dù bỏ phiếu kín nhưng không dám nói sự thật. Hệ giá trị của con người bị chi phối mạnh mẽ bởi quan niệm truyền thống “con cãi cha mẹ trăm đường con hư”. Nên là các em phải vâng lời, nghe lời. 

Làm thầy như chúng tôi, khi giảng ở một lớp có học trò nước ngoài, vui lắm vì họ biết phản biện lại, đặt câu hỏi với thầy cô. Nhưng học sinh Việt Nam thì chăm chú lắng nghe, ghi ghi chép chép, hỏi thì mặt mũi ngơ ngác. Thầy hỏi, trả lời chỉ sợ sai. Đó là tình trạng chung. 

Cá nhân tôi thì thấy rằng, ngay từ khi học mẫu giáo, học sinh được rèn phải nghe lời thầy cô tuyệt đối. Đến cấp tiểu học, vẫn là thầy cô dạy gì, trò biết nấy, không đặt câu hỏi lại.?

- Thực tế, thầy cô muốn tạo môi trường dân chủ không dễ, thậm chí không muốn nói là khó lắm. Vì trong một môi trường, các giá trị truyền thống vẫn còn chế ngự nặng nề thì làm sao mà chấp nhận cho học sinh chỉ ra cái sai của thầy cô ngay giữa lớp? Tôi nhìn sự việc GS Trương Nguyện Thành ở ĐH Hoa Sen mặc quần soóc giảng bài đơn thuần là muốn thoát khỏi suy nghĩ truyền thống, thì xã hội đã phê bình không ra gì rồi. Cứ thầy cô thì phải đạo mạo, nghiêm cẩn, không thể xảy ra sai sót... Nên người thầy buộc phải thận trọng, khi muốn làm gì phải nhìn trước nhìn sau… 

Nhưng giáo viên cũng không dám phản biện với các yêu cầu sai từ cấp trên - thực trạng này cũng không phải là cá biệt trong trường học hiện nay dẫn đến việc sao có thể dạy trò phản biện? 

- Ví dụ tôi vừa phân tích về nghịch tử ở trên. Về quan niệm “phản thầy”. Rồi các giá trị khác mà xã hội hiện đại và xã hội truyền thống chưa thể thống nhất. Đơn cử nhìn từ những vụ việc phát hiện tiêu cực xảy ra trong các kỳ thi ở trường học từ một cá nhân nhà giáo, vẫn có những người không đồng tình. Thậm chí, có người còn cho rằng họ tố cáo tiêu cực như vậy là ảnh hưởng đến bát cơm chung của đồng nghiệp, học trò sẽ bị soi xét kỹ hơn trong các kỳ thi... Mà như vậy, thì ai dám phản biện nữa? 

Đặc tính Việt - Tài nguyên tạo nên thương hiệu quốc gia

PGS.TS Đặng Thành Hưng.

PGS.TS Đặng Thành Hưng, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2: 

Không thể chỉ đòi hỏi học sinh “tôn sư trọng đạo”

Hiện tượng học sinh đánh nhau, người lớn đánh nhau, giáo viên đánh học sinh, phụ huynh đánh giáo viên hay học sinh… xảy ra tại trường trong khuôn khổ thời gian làm việc chính thức thường được gọi là bạo lực học đường. Nhưng cần phân biệt hành vi học sinh tự ý đánh nhau với hành vi học sinh đánh bạn khi tuân theo chỉ thị của cô giáo - một thứ là bạo lực học đường còn thứ kia là sai lầm của nhà trường hay giáo viên, không liên quan đến trách nhiệm của học sinh.

Nếu chỉ nói dạng bạo lực học đường ở học sinh thì cũng nên phân biệt nó và bạo lực trẻ em nói chung. Bạo lực trẻ em xảy ra ở ngoài xã hội nhiều gấp bội so với trong nhà trường. Không nên lạm dụng từ bạo lực học đường để nói về mọi hành vi bạo lực của trẻ em vì gây hiểu lầm và oan cho nhà trường.

Các nhân tố và điều kiện dẫn tới bạo lực trẻ em trong nhà trường trước hết do nhiễm bạo lực của người lớn (trong nhà, ở hàng xóm, trên các mạng xã hội, các games bạo lực, các kênh truyền thông khác kể cả ti vi và truyện). Bạo lực trẻ em bắt nguồn từ bạo lực của người lớn. Ngoài ra, các cháu không thể học ở đâu nữa. Nhân tố thứ 2 liên quan đến đặc điểm sinh học và tâm lí lứa tuổi và cá nhân. Các trẻ ưa bạo lực phần lớn bẩm sinh có khí chất xâm kích, hung hăng, tàn nhẫn, cục cằn, thiếu kiềm chế… Lứa tuổi dễ dính bạo lực là thiếu niên, từ 13-17 tuổi, gắn liền với thời kì dậy thì và phát triển khủng hoảng về sinh học và tâm lí.

Không thể đòi hỏi học sinh phản ứng đúng với những chỉ thị sai của thầy cô giáo vì chính các thầy cô giáo còn sai và nề nếp quản lí cũng dung túng những sai lầm đó. Cho nên trước hết phải giải quyết vấn đề ở khâu quản lí và chuyên môn, nghề nghiệp của giáo viên. Về lâu dài chúng ta cần khắc phục phong cách quản lí hà khắc, biện pháp giáo dục thô bạo bằng các qui định và chế tài nghiêm minh, chứ không phải đơn giản là phản biện, góp ý… Cần tôn trọng hơn vai trò của nhà giáo và học sinh trong quản lí nhà trường, đề cao tự chủ và chịu trách nhiệm của mỗi cá nhân chứ không nên chỉ đối xử với họ như những đối tượng bị quản lí.

Hiện nay trong nhà trường còn khá nhiều thủ tục rườm rà cần bỏ bớt để giảm áp lực cho học sinh và nhà giáo. Áp lực giấy tờ, thi đua và thành tích là một nguyên nhân không nhỏ dẫn tới ức chế, căng thẳng và phát xuất bạo lực. Ngoài bạo lực thì điều này cũng gây ra những quan hệ thiếu lành mạnh giữa học sinh và nhà giáo, giữa nhà trường và gia đình. Trong không ít trường hợp, cả thầy cô, học sinh lẫn gia đình cùng hợp tác để gian dối để tạo ra phong trào này kia, thành tích không thật… Điều đó khiến học sinh bị ảnh hưởng rất xấu, không tâm phục người lớn.

Quản lí nhà trường hiện nay quá nặng nề và lạm dụng uy lực hành chính nên nó dễ đối kháng với những nét bản chất của giáo dục và trẻ em vốn thích hợp với các giá trị nhân văn như tự do, tự nguyện, sáng tạo… Cần tích cực xây dựng và phát triển văn hóa nhà trường và cùng với đó là dựa vào văn hóa nhà trường mà quản lí thì sẽ tình cảm hơn, bớt xơ cứng hành chính thuần túy, nhẹ nhàng hơn và thuyết phục hơn. Một trong những con đường phát triển văn hóa nhà trường chính là đẩy mạnh nghiên cứu, tư vấn và tham vấn học đường, cố vấn học tập, dịch vụ hỗ trợ người học hiệu quả. Tất nhiên có việc hỗ trợ các học sinh yếu ớt, thiếu kĩ năng sống và giúp những em có khuynh hướng lệch lạc hành vi có liên quan đến bạo lực.

Tuy nhiên không nên tập trung phê phán thiên lệch nhà trường mỗi khi xảy ra bạo lực học đường. Nhà trường chỉ là nơi xảy ra bạo lực chứ căn nguyên từ ngoài. Nhà trường cũng không hề có chức năng, có quyền và công cụ trấn áp bạo lực. Thậm chí chỉ quát mắng, túm tay học sinh đã bị coi là vi phạm rồi chứ chưa nói còng tay, giam cầm, bắt bớ. Nhà trường và bất cứ nhà giáo nào cũng không hề dạy đánh nhau. Trong trường không hề có games hay phim, ảnh, sách bạo lực, không có môn học đánh nhau. Nếu xảy ra bạo lực thì họ bất lực mà thôi, vì họ không có quyền trấn áp bạo lực. Nhà trường hiện nay khá đơn độc trong nhiều nhiệm vụ giáo dục có liên quan đến các tệ nạn xã hội. Có thể trách họ chứ không thể đổ lỗi hết cho họ.

Tôn sư trọng đạo là giá trị truyền thống nhưng hoàn toàn có ý nghĩa hiện đại. Tất nhiên không thể hiểu thô thiển đó là điều bắt buộc tuân lời thầy cô hay cấp trên. Tôn trọng và có lễ, đúng mực, đúng pháp luật, đúng qui định… là đủ. Thầy cô sai thì tại sao lại nghe? Nhà trường phạm pháp thì giáo viên phải phản ứng bằng cách góp ý hay báo cáo cấp trên mới đúng. Trọng đạo được hiểu rộng chứ không chỉ nói học sinh. Trước hết cả xã hội, Nhà nước, các cơ quan, tổ chức, các nhà quản lí giáo dục và chính các nhà giáo phải đối xử với giáo dục đúng bản chất của giáo dục, tôn trọng nghề nhà giáo, tôn trọng ngành giáo dục và nhà trường. Sau hãy đòi hỏi học sinh trọng đạo. Đừng làm điều gì sai thì đó là trọng đạo. 

Đặc tính Việt - Tài nguyên tạo nên thương hiệu quốc gia

TS Tâm lý học Nguyễn Tùng Lâm.

TS Tâm lý học Nguyễn Tùng Lâm: 

Để cuộc sống thật hấp dẫn hơn là… sống ảo!

TS Nguyễn Tùng Lâm- Chủ tịch Hội Tâm lý giáo dục Hà Nội, đồng sáng lập trường THPT Đinh Tiên Hoàng (Hà Nội) chia sẻ: Trong nhiều vụ ẩu đả giữa các học sinh phổ thông hiện nay, có một thực tế lo ngại là hiện tượng tâm lý đám đông cùng a dua, khích bác thay vì can ngăn bạn đánh nhau, thậm chí có em còn quay lại clip để đăng lên mạng xã hội. Hành động thiếu suy nghĩ, thách thức người khác mà không lường trước hậu quả sẽ làm tổn thương nghiêm trọng đến bạn mình, chính bản thân mình cũng sẽ phải chịu hình phạt thích đáng. 

Đi tìm nguyên nhân, có một nguyên nhân xuất phát từ cuộc sống ảo có sức hấp dẫn rất cao, cùng với sự chia sẻ, bàn luận vô biên giới khiến các bạn trẻ cảm thấy đời sống thật lại là thứ yếu, bổ trợ cho đời sống ảo. Điều này là thực tế mà nhà trường và các bậc phụ huynh cần sớm nhìn nhận để điều chỉnh. Các em học sinh cần được chia sẻ về nguyện vọng, sở thích, được khuyến khích để đạt được những mục tiêu trong đời sống thật thay vì chìm vào cuộc sống ảo với mạng xã hội- TS Nguyễn Tùng Lâm cảnh báo.

Ở đó, vai trò của nhà trường là không thể phủ nhận. Trường học phải giáo dục cho học sinh về các giá trị sống, kỹ năng sống để các em biết tự chủ, tự trọng, biết chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Để “cai nghiện facebook” cho một số học sinh, việc cấm ngay các em sử dụng facebook là rất khó nhưng các trường nên có nội quy sử dụng mạng xã hội. Như ở trường THPT Đinh Tiên Hoàng đã áp dụng quy định này, yêu cầu các em ứng xử có văn hóa, không giao tiếp bừa bãi hay làm ảnh hưởng đến hình ảnh nhà trường. 

Về phía gia đình, không phải bố mẹ cứ mắng, cấm không sử dụng máy tính, điện thoại là có thể “cai nghiện”. Không thể cấm ngay các em sử dụng Facebook mà cần khiến cho các em mở rộng sự quan tâm sang các lĩnh vực khác, giảm bớt áp lực điểm số, học thêm, thi cử, gia tăng định hướng các em vào sở thích lành mạnh.

Bàn về các vụ bạo lực học đường xảy ra thời gian qua, TS Nguyễn Tùng Lâm cho rằng có một phần nguyên nhân từ lối giáo dục quyền uy, áp đặt từ người thầy. Thầy cô luôn cho là mình đúng, có người còn khó chịu với những thắc mắc, tranh luận của học sinh, không hiểu tâm sinh lý lứa tuổi các em nên dễ mắc sai lầm về phương pháp giáo dục.

Theo TS Tùng Lâm, chúng ta cần phải kiên quyết thay đổi lối giáo dục đó. Bởi người thầy chỉ là một cá thể, là người chịu trách nhiệm dẫn dắt học trò chứ không phải là chân lý. Thầy cô cần phải tôn trọng học trò, phải biết lắng nghe để thấu hiểu học trò hơn, tránh áp đặt. Muốn tôn trọng học trò, thực sự hiểu được học trò thì thầy cô phải có năng lực, nghiệp vụ sư phạm tốt. Muốn có năng lực, nghiệp vụ sư phạm tốt thì không có cách nào khác là phải chịu khó tự bồi dưỡng, tự học tập rèn luyện rút kinh nghiệm thường xuyên từ thực tiễn hằng ngày, không ngừng cải tiến phương pháp dạy... Người thầy tốt là người thầy biết truyền cảm hứng tích cực cho học trò, tạo động lực tốt để các em tiến bộ. Họ phải đo được hiệu quả giáo dục của mình, chứ thực tế có thể nhiều thầy cô rất chăm chỉ, nhưng đi theo đường mòn, dạy cho hết ngày, không có sáng tạo thì sẽ không có hiệu quả tốt cho học sinh, không những khiến các em không thích học mà còn thấy mệt mỏi, áp lực khi đến trường. 

Tất nhiên, để làm được điều đó, điều kiện cần bao gồm cả việc đẩy mạnh dân chủ trong nhà trường. Bởi khi giáo viên được nêu quan điểm, chính kiến của mình, tâm sự của họ được ban giám hiệu lắng nghe, chia sẻ thì thầy cô mới mạnh dạn, chủ động trong công việc. Nếu chỉ răm rắp nghe lời cấp trên thì sẽ chưa thể đẩy lùi bệnh thành tích trong giáo dục, chưa thể góp phần tạo ra một thế hệ học trò biết phản biện lại những điều chưa đúng…

Đặc tính Việt - Tài nguyên tạo nên thương hiệu quốc gia

TS Vũ Thu Hương.

TS Vũ Thu Hương, giảng viên Khoa Giáo dục Tiểu học - ĐH Sư phạm Hà Nội: 

Không nên tạo sức ép cho chính mình

Để nói về những nét tính cách nổi trội thiếu tích cực của người Việt, cá nhân tôi cho rằng người Việt lười tìm hiểu, học hỏi về mặt khoa học. Nhiều người tin vào những thứ mơ hồ hơn là những thông tin khoa học đã được kiểm chứng khác. Nói cách khác, họ tin vào những thông tin không chính thống, có thể gọi là vỉa hè. Trong khi tin chính thống thì nghe với sự nghi ngờ. Điều đó có tác động xấu đến chính họ. 

Thứ nhất là nhiều người cư xử, hành động phi khoa học vì hàng xóm của họ làm như thế, họ làm theo thôi... Chúng ta hay nghe đến câu là cả làng làm thế này, chúng ta đừng làm khác đi. Cách mà chúng ta hay mắng một người là “chả giống ai”. Nghĩa là cộng đồng làm thế nào, chúng ta làm giống như vậy mới là đúng, số đông làm mới là đúng. Nhưng trên thực tế, có thể số đông làm mà vẫn sai. 

Chúng ta đánh giá mọi thứ không theo khoa học mà theo cách nhìn của những người khác. Điều đó rất tệ hại ở chỗ ảnh hưởng đến chính cuộc sống của mình, sẽ lan truyền cái xấu đi rất là xa. Ngày xưa chúng ta dạy trẻ con làm rất nhiều việc, luôn dạy con phải tuân thủ yêu cầu của bố mẹ, cha ông... Ngày nay, nhiều người lại chăm bẵm cho trẻ quá mức dù nhiều nhà khoa học đã cảnh báo không nên làm như vậy... Hay chuyện ăn kiêng, nhiều người rỉ tai nhau về các phương pháp rất phi khoa học nhưng mọi người vẫn tin tưởng thực hiện theo một cách mù quáng. 

Tôi kể lại một câu chuyện thế này. Một bác bạn bố tôi đưa tôi một bảng hướng dẫn được in ra giấy về bảo vệ sức khỏe từ cộng đồng nuôi con thuận tự nhiên. Tôi đọc thấy rất phi khoa học nên cho rằng không nên tuân theo họ. Bác ấy hỏi lại, người ta làm như vậy để làm gì? Lợi lộc gì mà làm? Ý rằng họ lan truyền cách bảo vệ sức khỏe này không hề có lợi lộc gì mà hoàn toàn là muốn giúp mọi người, hành động đấy rất tốt nhằm đóng góp cho cộng đồng... Ngay lúc đó tôi không giải thích được họ làm như vậy để làm gì. Nhưng qua đó cho thấy sự hiểu biết mơ hồ lan truyền trong công chúng cực kỳ nhanh, bằng chính việc rỉ tai nhau. 

Đặc tính này có một cái lợi, đó là khi chúng ta làm cho nhóm dân chúng tin vào một cái gì đó có lợi thì lập tức sẽ lan rất nhanh trong cộng đồng. Ví dụ như khi chúng tôi làm hoạt động ứng phó và phòng tránh xâm hại trẻ em, phụ nữ bằng hàng loạt các bài báo, hội thảo, các buổi nói chuyện chuyên đề... trong năm 2017 thì tôi thấy nhận thức của xã hội về vấn đề này được cải thiện rất nhiều. 

Đặc tính thứ hai, đó là chỉ quan tâm đến quyền lợi của chính họ hơn là quan tâm đến lợi ích cộng đồng. Đơn cử như câu chuyện vượt đèn đỏ. Một lần tôi dừng ở đèn đỏ, ngay trước vạch trắng dành cho người sang đường. Người đằng sau cứ giục tôi tiến lên phía trước với lời nhắn nhủ là cứ lên đi, không sợ bị công an bắt đâu... Tôi trả lời lại là chúng tôi không vi phạm pháp luật. Câu chuyện ở đây là người ta không muốn vượt đèn đỏ đâu, nhưng họ muốn ở vị trí cao hơn để khi đèn chuyển sang xanh, họ sẽ đi được ngay mà không phải chờ. Họ cảm thấy sẽ có lợi khi vượt được một đoạn ngắn như vậy nhưng lại không nhận ra là làm vậy vừa vi phạm luật giao thông, vừa ngăn cản những người đi ở chiều vuông góc với họ cũng như những người đi bộ. 

Đặc tính thứ ba,  người Việt Nam coi trẻ con là đồ chơi cao cấp. Người Việt Nam luôn quan niệm đẻ nhiều con là vì lo cho tuổi già của mình. Như tôi chỉ có một con, luôn nhận được sự quan tâm của mọi người rằng sao không sinh tiếp đi? Họ không bao giờ hỏi đẻ nhiều như vậy, có tốt gì cho đứa trẻ không?

Tôi chứng kiến việc, một bà mẹ cho con đi chơi công viên. Đứa bé không may bị ngã. Người mẹ đang rất bối rối thì người xung quanh nói luôn, trông con kiểu gì để con ngã. Họ nói vậy không hề tốt cho đứa trẻ, cũng không tốt cho người mẹ. Đằng nào bé cũng ngã rồi, nhưng nói vậy sẽ khiến người mẹ có tâm trạng xấu. Vừa ân hận, khó chịu, bực mình và có thể người ta có thể hành động có hại cho đứa trẻ, đó là không cho trẻ đi chơi công viên nữa. 

Hay việc nuôi con ở Việt Nam, rất căng thẳng vì luôn so sánh và bị so sánh con mình sao chỉ được ngần ấy cân nặng... 

Những đứa trẻ trở thành món “đồ chơi” của người lớn, họ nói để thỏa mãn cái gì đó của họ thay vì sự quan tâm có thật. Những việc rất nhiều gia đình đề cao thành tích của con, bắt trẻ học hết thứ này đến thứ khác nhưng rốt cuộc cái đó có hại gì cho đứa trẻ hay không thì họ không quan tâm. Mặc các nhà khoa học, nhà giáo cảnh báo là đừng cho trẻ học thêm nữa nhưng nhiều ông bố bà mẹ vẫn cho rằng, nếu không cho trẻ học thêm thì con sẽ đuối. Họ không chấp nhận được việc con mình không đạt học sinh giỏi, không đạt “chuẩn giỏi” dù thực tế, chỉ cần học lực trung bình là con đã được lên lớp. Như thế, trẻ con không được sống đúng cuộc sống của mình mà phải sống vì người khác.

Về điểm sáng trong tính cách người Việt, tôi lấy những ví dụ nho nhỏ thế này. Căn bệnh thành tích, chúng ta luôn nói về những mặt tiêu cực, mặt xấu của nó nhưng đồng thời, tính thành tích cũng khiến người Việt đua nhau để tiến bộ. Nó tạo cho chính bản thân người ta có sức ép với chính mình trong tất cả các câu chuyện,  từ đó vươn lên và đạt được những thành tích rất đáng khâm phục. Như học sinh Việt Nam, ra thế giới rất nhiều em đạt được thành tích tốt vì sự chăm chỉ, nỗ lực, lo sợ vì thua kém người bản địa... 

Thứ hai, sự nhanh nhạy của người Việt Nam là không thể phủ nhận. Người Việt Nam nắm bắt cơ hội cực kỳ tốt. Chẳng hạn,  hôm nay một nhà bán ốc luộc rất đắt hàng, thế là chỉ ngày hôm sau cả phố đều bán ốc luộc... 

Mỗi một sự việc, hiện tượng đều có hai mặt của nó. Tính cách cũng vậy. Nếu chúng ta biết phát huy mặt tốt đồng thời hạn chế, điều chỉnh những điều chưa được sẽ góp phần tạo nên một xã hội phát triển, bền vững. 

Thực hiện chuyên đề: Thu Hương