logo
Thứ năm, 20/06/2013 11:57
Đường dây nóng: (04) 38228302 Email : noidung.dko@gmail.com
 
Nguyệt san

Mái đình lặng lẽ uốn cong góc trời... (24/08/2011)
Tôi trở về làng giữa cái nắng đã vắt kiệt những giọt nước còn lại nơi chân ruộng. Tháng sáu. Làng quê vắng bóng mái tranh che mùa. Mái tranh chừng đã phai dần theo màu nắng. Chỉ mái đình là còn oằn trong tiềm thức của một người con xa xứ là tôi.
 
 

Tôi không thể quên buổi sáng ấy. Khi một ông già râu dài, cao nghênh như người thượng cổ tiến vào, bày ra giữa bàn nhà tôi nào giấy nào ảnh, nói với ba tôi: Như vậy là sắc phong, kèo cột, tượng vật còn nguyên cả. Cây có gốc mới trổ cành xanh ngọn, nước có nguồn mới bể rộng sông sâu... Làng mình nhất thiết dựng lại được ngôi đền. Ba tôi ngắm nghía tấm ảnh chụp bài vị Thành Hoàng không chớp mắt: Ông liều thật đấy, dám các sổ hưu vay nợ ngân hàng để góp tiền dựng lại đền làng... Đúng là hiệp sĩ.

Ông, vốn là cha của một người bạn tôi học cùng nhau từ cấp I cho tới tốt nghiệp phổ thông trung học. Một hôm tôi từ ngõ xóm đi ra thì gặp ông. Tôi chào, hỏi lấy lệ: Ông đi đâu mà vội vàng thế? Mình xuống đền xem thợ đã làm xong hai con rồng chưa. Này, đi với mình. Rồng mình không nói, nhưng mấy ông thợ làm móng sắc sảo lắm. Con rồng đẹp ăn thua nơi bộ móng của nó thôi. Khi nào con rồng khô khén, lắp lên đền, cậu sẽ thấy đẹp như thế nào. Đình làng được vua Nguyễn ban cho thờ Thành Hoàng, nhưng bọn mình không làm con rồng thời Nguyễn. Phải là con rồng thời Trần. Phải thể hiện được khí phách Hào Khí Đông A. Sắc phong đúng là của các vua Nguyễn nhưng rốt cục chỉ đút trong ống. Bức hoành phi Thượng Đẳng Tôn Thần do vua Trần ban treo trước đền mới thực chưng ra giữa bàn dân thiên hạ. Mà này, cậu phải ủng hộ một tay đấy nha.

Hướng về đình làng thêm dăm bước, ông bộ tiếc rẻ: Giá bọn con bây giờ được chiêm ngưỡng nguyên vẹn quang cảnh đền xưa... Đền xưa không phải nằm ở vị trí gần đài liệt sĩ như bây giờ đâu. Đối diện với ngôi đền một quãng là bến đò dọc. Dân vạn chài từ xã Thái đến Thạch Kim đều xuôi thuyền về giăng lưới, thả câu nên chợ làng ngày nào cũng ăm ắp tôm cá. Những ngày phiên chợ, thuyền lớn thuyền bé đậu chặt cả bến sông. Cứ chiều về, thuyền bè tản đi các phía xuôi ngược, sang ngang; trên mặt sông, tiếng mái chèo đập nước hòa tiếng người... vui lắm!.

Bến đò dọc - cái nơi như một nỗi niềm quá vãng. Mẹ từng kể, trước ông ngoại tôi cũng cất vó tại đấy. Ông thường đi vào đầu hôm, (khoảng 7 giờ tối đến 10 giờ) rồi từ 4 giờ sáng cho tới 7 giờ. Chừng ấy loài cá nào cũng kiếm ăn. Hình thức bắt cá vui nhất là chuôm. Thường mỗi cái chuôm như vậy rộng khoảng 4 - 8m2, gồm những ngọn tre được ba bốn nhà cùng nhau cắm xuống giữa lòng sông. Độ tuần, người ta vây lưới chung quanh; vào trong dỡ tre và bắt cá. Cũng có những cái chuôm hàng tháng trời mới "thu hoạch”, hoặc còn lâu hơn - khi người ta đợi cho nước sông cạn bớt.
 
 

Tôi chưa hiểu, tại sao dân làng khi thì gọi đình Ngọc Mỹ, khi thì gọi là đền...? Tôi chuyển câu hỏi cho ông.

- Trước kia là đình, nay nó được chuyển vị trí, chủ đích thờ anh hùng dân tộc Đặng Tất làm Thành Hoàng nên gọi đền. Đền thờ Đặng Tất. Nhưng mà gọi đền hay đình là do sự quen miệng của người dân trong xóm thôi, đều đúng, đều được.

Đặng Tất... - Tôi bước theo ông Kiên trong mớ bòng bong của lịch sử.

Đặng Tất là một nhân vật cuối thời Trần. Cuộc đời chiến binh có những uẩn khúc mà lịch sử, có thể chưa lý giải, nhìn nhận thấu đáo. Một số bộ sử như Đại Việt sử ký toàn thư; Lịch sử chế độ Phong kiến Việt Nam cho rằng Đặng Tất mang tội phản phúc. Từ một tướng của nhà Trần; khi nhà Trần suy yếu, đã cùng Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần. Tiếp, thời điểm nhà Trần bị giặc Minh đánh vào cuối năm 1407, Đặng Tất lại bắt tướng Hoàng Hối Khanh (trước cũng là cựu thần của nhà Trần), tâm phúc của Hồ Quý Ly làm lễ vật đầu hàng nhà Minh (?). Sau nốt, bỏ nhà Minh về với "Hậu Trần”... Có điều, nếu Đặng Tất phản chủ hai triều đại, cớ gì "Hậu Trần” lại thu nhận? Hay vì "Hậu Trần” không rõ tung tích danh tánh của người này; mà chỉ nghi ngờ, như trong cuốn Danh nhân Nghệ Tĩnh: "Đặng Tất (? - Kỷ Sửu 1409) quê gốc xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Là một tướng tài của thời Hậu Trần, ông đã dốc hết tâm lực vào cuộc chiến quyết tâm bảo vệ ngôi vị nhà Trần nhưng khí tài của ông đã bị "chữ mệnh” kìm hãm: Sau trận đánh tan quân Minh ở Nam Định bây giờ vào ngày 14 tháng Chạp, Đặng Tất bị nghi ngờ là quan cũ của nhà Hồ, có nguy cơ cướp ngôi; bọn nịnh thần còn kiếm đủ cớ gièm pha, gán lộng quyền. Vì thế tháng hai năm 1409, lúc đóng quân ở Hoàng Giang, vua Giản Định cho gọi ông (cùng Nguyễn Cảnh Chân - cũng bị nghi oan) đến thuyền mình sai hai lực sĩ bóp cổ giết chết”.

Nghịch lý là ở chỗ: vì sao một người "ham sống sợ chết, bán chúa, phản nước, bán thầy, hại bạn cầu vinh” - theo như một số học giả đã quy kết, lại rất được nhân dânh kính trọng bao đời nay; không "chòng chành” như cụ Phan Thanh Giản từng mở cửa thành "đón” Pháp để "tránh một sự đổ máu vô ích!” vào tháng 6 năm 1867. Mặt khác, sau ngày đại thắng quân Minh (1428), vua Lê Lợi đã thưởng cho những người có công với nước, trong đó Đặng Tất được phong "Tiết Nghĩa Công Thần”. Không những thế, Đặng Tất còn được nhà Trần tặng cờ Mao Tuyết và phong bốn chữ gắn trước đền thờ ông ở làng Ngọc Mỹ quê tôi: "Thượng Đẳng Tôn Thần”.

Với "chính khí phục Đông A, hùng uy tồi Bắc địch”; đền Ngọc Mỹ tạo dựng lại hôm nay có đề câu đối: "Nghĩa khí thiên thu ơn bảo quốc/ Cương thường vạn cổ đức hộ dân”, tỏ tấm lòng ngưỡng mộ và tự hào vị Thành Hoàng đã trở thành biểu tượng tâm linh cho người dân làng Ngọc Mỹ.

Trong cuốn Về Tiên Điền nhớ Nguyễn Du của Đặng Duy Phúc có ghi: "Cụ tổ 4 đời của Đặng Tất là Đặng Bá Kiển, con trai của Đặng Lộ chuyển di vào Nghệ An lập nghiệp tại huyện Thiên Lộc (nay là huyện Phù Lưu) và trở thành chức sắc mục xã Phù Lưu” - nơi có đền thờ ông ngày nay.

Địa chí xã Phù Lưu cũng chép: Vào khoảng cuối thế kỷ XIV, một người con của Đặng Dung tên là Đặng Đức đến sinh sống trên đất Phù Lưu (lập nên dòng họ Đặng nơi đây) và đã cùng dân làng Ngọc Mỹ dựng ngôi đền thờ ông nội (năm 1450 - N.N) và thân sinh của mình là Đặng Dung. (Đền thờ Đặng Dung hiện có ở xã Tùng Lộc, huyện Lộc Hà - Hà Tĩnh). Đặng Dung cũng như cha, tiếp nối Hào Khí Đông A, gạt mối thù riêng hết lòng phò vua cố lập lại nhà Trần. Tiếc thay, "nợ nước chưa xong đầu đã bạc”. Như đời ông đã nghiệm: "Anh hùng lỡ vận cũng co tay”. Tuy sự nghiệp và hoài bão không thành nhưng lòng trung liệt và khí phách kiên cường của Đặng Tất, Đặng Dung mãi lưu danh hậu thế.
 
 

Hậu thế đánh giá công lao hai cha con đã có câu đối bất hủ:

Quốc sĩ vô song, song quốc sĩ
Anh hùng bất nhị, nhị anh hùng

Đặng Đức cùng dân làng dựng đền thờ cha và ông song trên thực tế, dựa vào sắc của vua các triều đại ban xuống thì đền Ngọc Mỹ chỉ thờ Đặng Tất. Từ đời vua Thành Thái (1889 - 1907) cho tới vị vua cuối cùng triều Nguyễn, Bảo Đại, đều có sắc xuống. Xin dẫn sắc đời vua Tự Đức ban ngày 24 tháng 11 năm 1880. Tạm dịch: "Sắc chỉ cho thôn Ngọc Mỹ xã Phù Lưu huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh từ trước đã thờ ông Bảo An Chính Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng làm Thành Hoàng từng được ban cấp phụng thờ từ trước tới nay.

Nay đúng kỳ Tự Đức năm thứ 31 Ngũ Tuần Đại Khánh của Trẫm đã ban chiếu báu chuẩn cho phép phụng thờ như cũ để ghi nhớ ngày vui của nước”...

Tôi cùng ông tới đền, thấy bên trong mấy người thợ đang chúm hụm bên bộ móng sắc lẻm của con rồng thời Trần oai liệt. Ông kiên nhẫn theo tôi, như một nhà tư vấn xây dựng, như một "thái giám” thời quân chủ: Con không biết đấy chứ ngày xưa ở đền là nơi tụ tập, hội hè của cả làng. Đêm nào chẳng có hát hò.

Tôi đi quanh ngôi đền ngắm nghía, suy ngẫm.

Đình làng Ngọc Mỹ trước đây gồm ba toà hạ, trung và thượng điện, quy mô tương đối lớn. So với bây giờ gấp khoảng ba lần. Từ ngoài hạ điện đến vào cổng thượng điện dài độ mười lăm mét. Sân đình to rộng này đủ cho toàn bộ dân làng tụ họp vui hội. Những trò chơi thủa ấy như ném còn, đi cầu kiều, đánh đáo... Thượng điện được bắt đầu với hai con hạc chầu hai bên, tiếp đến là hai vị tướng cầm giáo bảo vệ cấm đạo quân. Bên cạnh đền có ngôi chùa cổ thờ Phật. Dân trong làng ít để ý đến những triết lý sâu xa của nhà Phật, họ chỉ muốn tìm ở Phật sự chở che, chia sẻ khổ đau chẳng may gặp phải. Hiện nay ngôi chùa nhỏ ấy không còn. Cũng không mấy ai trong làng còn nhớ... Tôi nghĩ chùa là một phần của đền làng từ khi đền làng sinh thành; nay dựng lại đền không dựng chùa, đương nhiên thiếu sót. Thay vào đó là Tượng đài Liệt sĩ. Nếu đức Phật biết, chỗ đứng của ngôi chùa xưa kia giờ là Tượng đài Liệt sĩ, chắc ngài cũng vui! Phật vốn là tấm bia ghi ơn mà.

Tượng đài Liệt sĩ xây trước đền làng Ngọc Mỹ. Thật sự mà nói, tôi không ngưỡng mộ cái dáng vẻ của nó. Chẳng hiểu cớ gì, người "hậu chiến” lại lấy một loại vũ khí tàn khốc nhất làm mẫu cho tượng đài. Nó không chứng minh được gì cả ngoài nỗi ám ảnh của chiến tranh! Mỗi lần vào đấy tôi chỉ chạm tay lên tấm bia ghi danh các liệt sĩ, có tên cậu tôi. Cậu tôi mất năm 1965, mãi tới năm 1977 giấy báo tử mới về. Ngỡ đã mất tích... Nhà cậu mự - nơi ngoại tôi đã sống một mình nhiều năm. Giờ ngoại đã nằm chỗ khác, sâu dưới mấy tầng đất... Tôi thấm thía sự cô quạnh của một người vợ mất chồng, một người mẹ đau đáu chờ tin con mấy mươi năm...

Cũng là bạn của ngoại tôi, Ông kéo tôi khỏi phút mặc niệm bên Tượng đài Liệt sĩ - đã như một phần tất yếu của đình làng:

Con biết không, sợ bom đạn phá hoại, Đảng bộ và nhân dân xã đã cho dỡ bỏ ngôi đền, mang sắc bằng và kèo cột gửi gắm, cất giấu trong làng. Bởi thế hôm nay tôn tạo lại, đền tuy không to bằng trước nhưng cơ bản vẫn mang dáng vóc của ngày xưa. Tất nhiên, trước khi dỡ bỏ, đình chẳng còn nguyên ...Đình làng nay không rồng bay phượng múa/ Đứng cởi trần như bốt gác đầu thôn/ Em bé ngây thơ không nhảy đô xòn/ Bầy chim nhỏ lạc đàn tìm cơm áo... Thơ của người trước để lại đấy con. Đình ta, điều đáng quý là chứng tích cách mạng. Vừa mới ra đời ngày 1 - 5 (1930), Chi bộ Cộng sản Đảng đã vận động bà con nông dân tổ chức mít tinh tại đền để kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động và tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng; ngày 18, cờ búa liềm tại đền lại được dịp tung bay trên cây đa cổ thụ đầu làng. Từ đó đền làng ta trở thành trụ sở chính của chính quyền cách mạng xã. Năm khởi nghĩa tháng Tám, cờ đỏ sao vàng tung bay trước cây đa cổ thụ. Dưới cột cờ đề: Ai hạ cờ, trảm phạt!

Cây đa to cao lắm. Cây đa do ông Cháu Quỳ làng mình trồng lúc còn nhỏ. Ông mất năm tám mươi tuổi, khoảng ba mươi năm sau, cây đa mới bị ngã. Vậy nếu bớt đầu bớt đuôi, cây đa tồn tại ngót trên trăm năm. Lúc còn sống cây đa có kích thước tới bảy tám người ôm, cành vươn dài hơn hai mươi mét. Dưới gốc đa vào ngày hè có quán nước chè. Người đi chợ quang gánh bộ hành qua, không mấy ai không ghé lại nghỉ chân. Đền thiêng lắm đó. Truyền thuyết kể, vào một đêm trời nhờ nhờ tối, người ta thấy một tinh lạc với ánh lửa xoay tròn từ trên cao xuống, rồi sa thẳng vào trong đền...

Tôi quét vi rút não bộ, hiện lên ngôi mộ ngài Thành Hoàng nằm đối diện với đình làng cũ.

Lịch sử để lại nhiều khúc quanh sau từng lũy tre vi vút gió. Cũng như dân làng tôi luôn tin vào những truyền thuyết vây quanh người anh hùng họ Đặng. Và ngôi mộ tổ hiện thời bên bến đò dọc năm xưa, họ tin, chí ít cũng có một giọt máu của Đặng Tất rỏ xuống trên chặng đường ông bị giặc thù gắt gao truy sát.

Ghi chép của: Nhụy Nguyên

Gui cho ban be Gửi cho bạn bè print Bản in
Gửi bình luận của bạn
Họ tên:  
Email:  
Nội dung:
Mã an toàn* Ma an toan
Xem các bài viết theo ngày calendar
Các bài mới hơn:
bullet Chuyện nghề nhà báo (19/06/2013)
bullet Điểm nhấn tháng 6 (19/06/2013)
bullet Thư tòa soạn (19/06/2013)
bullet Thành phố trên sa mạc (23/05/2013)
bullet “Cơm tù” với khách đường xa (23/05/2013)
Các bài đã đăng:
bullet Ký sự đêm “rạch gốc” (24/08/2011)
bullet Thư toà soạn (21/08/2011)
bullet Điểm nhấn tháng 7 (21/08/2011)
bullet Tự hào Thương hiệu Việt: Vinh danh hàng Việt (21/08/2011)
bullet Sức mạnh của lòng yêu nước (21/08/2011)
bullet Kỷ niệm Ngày thương binh liệt sĩ 27-7: Gặp lại người đồng đội ở căn cứ Nước Trong (21/08/2011)
bullet Nghĩa trang không bia mộ (21/08/2011)
bullet Làm thế nào để Hà Nội xây dựng theo Quy hoạch đã duyệt? (21/08/2011)
bullet Thận trọng với đường trên cao (21/08/2011)
bullet Để giải quyết nhà siêu mỏng, siêu méo: Cần thay đổi cách tổ chức phát triển đô thị (21/08/2011)
Xem tiếp >>
Tổng biên tập: Đinh Đức Lập
Phó tổng biên tập: Nguyễn Quốc Khánh
Thư ký tòa soạn: Hà Trọng Nghĩa
Báo Đại Đoàn Kết
- Giấy phép xuất bản số 270/GP-TTĐT ngày 27/12/2010 của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc thiết lập trang báo điện tử
- Tòa soạn và trị sự: 66 Bà Triệu - Hà Nội - ĐT: (04) 38228303 - FAX: (04) 38228547 - Email: toasoan@baodaidoanket.com.vn
- Đường dây nóng : (04) 39433164 - (08) 39327989
- Ban đại diện tại TP. Hồ Chí Minh: 176 Võ Thị Sáu, TP. Hồ Chí Minh - ĐT: (08) 39326703 - FAX: (08) 39326130 - Email: daidoanket2vp@hcm.vnn.vn
Các văn phòng thường trú:
- Thanh Hóa: Đường Hạc Thành, TP. Thanh Hóa. ĐT: (037) 3854310
- Đà Nẵng: 457 Núi Thành, TP Đà Nẵng. ĐT: (0511) 3700929. FAX: (0511) 3626086
- Khánh Hòa: A4 chung cư 2, TP. Nha Trang, Khánh Hoà. ĐT/Fax: (058) 3870608
- Cần Thơ: 5A đường 30-4, TP Cần Thơ - ĐT/Fax: (071) 3839444.