: toasoandko@gmail.com | : (04) 38.228.302
Liên hệ quảng cáo: (04)39.431.943 - (04)39.447.011
06:05:00 - Thứ bảy, 06/10/2018

Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười với đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận Tổ quốc

Trong cuộc đời hoạt động của mình, tôi có may mắn được gặp và làm việc với đồng chí Đỗ Mười nhiều lần, trong đó có ba lần để lại trong tôi những kỷ niệm sâu sắc nhất.

Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười với đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận Tổ quốc

Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm trường PTTH dân tộc tỉnh Tuyên Quang, tháng 2/1992. Ảnh: TL.

Lần đầu tiên là tháng 5 năm 1970 tại nhà riêng của Chủ tịch Hoàng Quốc Việt nhân dịp kỷ niệm lần thứ 65 ngày sinh của ông. Lúc đó, đồng chí Đỗ Mười là Phó Thủ tướng - Chủ nhiệm Văn phòng kinh tế Phủ Thủ tướng, còn tôi là Thư ký của đồng chí Hoàng Quốc Việt. Buổi gặp gỡ đầu tiên đó để lại trong tôi những cái vỗ vai đau điếng và những ấn tượng đẹp về một đồng chí lãnh đạo gần dân, chân thành và tình nghĩa.

Sau này, cứ vào tháng năm, tôi lại được gặp đồng chí lãnh đạo đáng kính đó khi ông đến chúc mừng “Thủ trưởng” của mình nhân ngày sinh Chủ tịch Hoàng Quốc Việt (1).

Lần thứ hai tôi được làm việc với đồng chí Đỗ Mười là tháng 8 năm 1988, lúc đó ông vừa được Quốc hội bầu làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (2). Ông mời Ban Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận sang để bàn về Quy chế phối hợp giữa Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Hội đồng Bộ trưởng theo tinh thần đổi mới mà Đại hội VI của Đảng đã đề ra và việc chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Ông đề nghị Ban Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Đại hội VI, động viên, khuyến khích các đại biểu với “tâm sáng, lòng trong” mạnh dạn đóng góp giúp Chính phủ thấy được mặt mạnh, mặt yếu trong điều hành, quản lý. Với tinh thần nói thẳng, nói thật.

Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cũng góp ý với Tổng Thư ký Phạm Văn Kiết (tức Năm Vận) là báo cáo Đại hội lần này nên mang “hơi thở” của tinh thần đổi mới, tránh lối mòn, tránh rập khuôn, cần nói rõ cái được sau gần hai năm tiến hành công cuộc đổi mới, để dân tin, song cũng phải nói hết những khó khăn hiện nay để các đại biểu bàn và cùng nhau tháo gỡ, khắc phục.

Cuối cùng, ông đề nghị Mặt trận nghiên cứu để sau Đại hội, Chính phủ cùng Mặt trận xây dựng và ký kết Quy chế phối hợp công tác giữa Đoàn Chủ tịch và Chính phủ.

Buổi làm việc hôm đó giúp chúng tôi hiểu thêm nhiều điều về ông: Một nhà lãnh đạo sát thực tiễn, quyết đoán và chân thành.

Lần thứ ba tôi được làm việc với đồng chí Đỗ Mười là giữa năm 1993. Lúc này ông là Tổng Bí thư của Đảng.

Triển khai Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội mà Đại hội VII đã thông qua, đầu năm 1993 Bộ Chính trị giao cho Đảng đoàn Mặt trận và Ban Dân vận Trung ương giúp Bộ Chính trị chuẩn bị Nghị quyết Về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất. Sau gần 3 tháng triển khai công việc, đồng chí Tổng Bí thư triệu tập cuộc họp để kiểm điểm công việc. Tham dự cuộc họp còn có đồng chí Vũ Oanh, Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách Dân vận – Mặt trận; đồng chí Nguyễn Đức Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, phụ trách công tác lý luận, tư tưởng. Đồng chí Lê Quang Đạo - Trưởng tiểu ban biên tập - nêu những việc đã làm trong 3 tháng qua, những nhân vật đã gặp và dự định công việc sắp tới. Đồng chí Tổng Bí thư yêu cầu anh Đạo nói cụ thể đã gặp và lấy ý kiến những ai. Danh sách mà anh Lê Quang Đạo đọc khá dài, hơn 70 người trong đó có các đồng chí và các vị đã từng là lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các đồng chí phụ trách Đảng đoàn Mặt trận, đảng đoàn các tổ chức thành viên, các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư các khóa trước, các đồng chí lão thành trong công tác Dân vận – Mặt trận qua các thời kỳ cách mạng, các đồng chí cán bộ Mặt trận có lý luận và khả năng tổng kết thực tiễn nay đã về hưu, các nhân sĩ, trí thức tiêu biểu người Việt Nam định cư ở nước ngoài v.v…

Đồng chí Tổng Bí thư đánh giá cao công việc của Tiểu ban, khen ngợi đồng chí Lê Quang Đạo “nhà lý luận của Đảng ta”(3) và nhấn mạnh:

- Đây là Nghị quyết chuyên đề lần thứ hai của Bộ Chính trị về “Đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất” từ ngày thành lập Đảng. Nghị quyết chuyên đề lần thứ nhất về “Đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất” được ban hành năm 1962 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bác Hồ và đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết quân – dân, đoàn kết toàn dân, góp phần quyết định vào sự nghiệp xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Nghị quyết lần này được ban hành trong điều kiện:

a) Bối cảnh quốc tế hiện nay, yếu tố dân tộc trở thành một đặc điểm cực kỳ quan trọng. Các nước đang phát triển như nước ta muốn thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu phải chấp nhận cuộc đấu tranh rất khó khăn và phức tạp.

b) Thực hiện đường lối đổi mới, chúng ta đã giành được thắng lợi ban đầu rất quan trọng, song kinh tế phát triển còn chậm, lạm phát cao, Liên Xô, Đông Âu tan rã, không còn nguồn viện trợ, quan hệ Việt - Trung vẫn chưa được cải thiện, vẫn “cơm chẳng lành canh chẳng ngọt”; Mỹ  chưa từ bỏ cấm vận v.v…

Trước tình hình đó, không có con đường rào khác là “phải”: Kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, đoàn kết “muôn người như một” để vượt qua khó khăn, vươn lên thực hiện thắng lợi mà Nghị quyết Đại hội VII đã đề ra.

d) Muốn đoàn kết “muôn người như một” trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” ở điều kiện “phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước” thì đoàn kết trên cơ sở nào? Mẫu số chung hay điểm tương đồng là gì? Đề nghị các đồng chí suy nghĩ, tổ chức Hội thảo để tìm ra nó, làm sao để huy động tối đa sức mạnh dân tộc vào cuộc đấu tranh đầy cam go và quyết liệt này. Tháng 10/1993 Bộ Chính trị có phiên họp đầu tiên để cho ý kiến vào Dự thảo Nghị quyết. Hội nghị đánh giá cao chất lượng chuẩn bị nhưng yêu cầu trả lời:

1) Nội dung điểm tương đồng không có từ xã hội chủ nghĩa.

2) Tại sao lại đưa vấn đề xây dựng xã hội dân chủ vào mục tiêu.

3) Không chấp nhận “hòa hợp dân tộc” vì cuộc chiến tranh của dân ta không phải là cuộc nội chiến, mà cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược.

Đồng chí Lê Quang Đạo, trình bày:

Trước hết về mục tiêu: Dự thảo viết: “Đoàn kết mọi người Việt Nam tán thành công cuộc đổi mới vì mục tiêu “giữ vững độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu sớm thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên dân giàu nước mạnh, xã hội “dân chủ, công bằng văn minh, thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”, góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ thế giới.

Sau nhiều lần chỉnh, sửa, ngày 17/11/1993 đồng chí Tổng Bí thư đã ký ban hành Nghị quyết.

Nghị quyết là bước đột phá trong quan điểm, nhận thức về đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất. Đoàn kết, hòa hợp dân tộc – một chủ trương lớn của Đảng đã được đặt ra từ ngay khi đất nước thống nhất nhưng đến thời điểm đó còn nhiều nhận thức khác nhau. Đến lần này, những quan điểm đúng đắn đã được Nghị quyết khẳng định, như: “chấp nhận những điểm khác nhau xóa bỏ định kiến, mặc cảm, hận thù, hướng tới tương lai; xây dựng tinh thần đoàn kết, cởi mở, tin cậy lẫn nhau, tất cả vì độc lập của Tổ quốc, tự do và hạnh phúc của nhân dân”.

Không chỉ ban hành Nghị quyết, đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười đã trực tiếp chỉ đạo Đại hội IV của Mặt trận Tổ quốc với quyết tâm “thực hiện đại đoàn kết dân tộc ở tầm cao mới và chiều sâu mới”, đưa “tư tưởng đại đoàn kết vào mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, đối ngoại… Đại hội đã thông qua Chương trình Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về Đại đoàn kết dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc gồm 12 điểm. Trong những năm giữ cương vị Tổng Bí thư, đồng chí Đỗ Mười đã 7 lần đến thăm và làm việc với Mặt trận và trở thành “người của nhân dân” “người Mặt trận” như các vị nhân sĩ, trí thức tiêu biểu trong Mặt trận đã đặt cho đồng chí.

Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười – người cộng sản kiên cường, vị lãnh đạo tài năng và kiên định, học trò xuất sắc của Bác Hồ, một tấm gương sáng về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” suốt đời vì Đảng, vì dân, vì nước”, người có công lớn đối với sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất đã ra đi. Xin chúc đồng chí thanh thản cõi vĩnh hằng.

Nguyễn Túc (Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam)

_________________

(1) Đó là từ mà đồng chí Đỗ Mười thường xưng hô với đồng chí Hoàng Quốc Việt.
(2) Ông được Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng tháng 6 năm 1988.
(3) Nguyên văn cụm từ đồng chí Đỗ Mười dùng.