: toasoandko@gmail.com | : (04) 38.228.302
Liên hệ quảng cáo: (04)39.431.943 - (04)39.447.011
08:45:00 - Thứ tư, 13/03/2019

Họa sĩ Phan Hải Bằng: Trúc Chỉ khai sinh từ văn hóa Huế

Qua bốn triển lãm cá nhân “Vọng”, “Mùa Thu”, “Nghệ thuật Trúc Chỉ”, “Giấc mơ sau lũy tre làng”, từ lấy giấy dó làm nguyên liệu sáng tác tranh, họa sĩ Phan Hải Bằng đã chuyển sang nghiên cứu giấy nghệ thuật Trúc Chỉ. Nói đến Huế, nhiều người sẽ không quên nhắc tới Trúc Chỉ - nay trở thành một phần văn hóa nơi kinh kỳ.

Họa sĩ Phan Hải Bằng: Trúc Chỉ khai sinh từ văn hóa Huế

Chân dung họa sĩ Phan Hải Bằng.

Lần đầu tiên tôi gặp họa sĩ Phan Hải Bằng là nhân dịp tham gia làm truyền thông cho Festival Huế 2010, gặp gỡ một số nghệ sĩ Huế diễn ra trong một tiệc rượu nhỏ do cặp nghệ sĩ song sinh Lê Ngọc Thanh - Lê Đức Hải  tổ chức. Anh tới, ngồi yên lặng trên chiếc ghế tựa xưa cũ được sản xuất từ thập niên 70 thế kỷ trước. Vài lần sau có dịp hội ngộ, cũng thấy một Phan Hải Bằng hầu như không cất lên lời nào giữa tiệc vui. Có vẻ lúc nào anh cũng chìm đắm vào thế giới mộng tưởng riêng biệt nào đó. Thế nhưng, đã gặp Phan Hải Bằng ngoài đời, thì rất khó quên được anh với đôi mắt thường trực u ẩn buồn. Kể cả lúc anh cười, thì ánh mắt vẫn chẳng bao giờ lấp lánh an lạc được. 

Cũng tại Huế, lần đầu tiên tôi được ngắm bộ tranh của Phan Hải Bằng. Khi ấy, anh còn sáng tác trên giấy dó, tranh sơn mài và sơn mài tổng hợp, chủ đề về sen với sự chiêm nghiệm về nhân sinh. 

Từ năm 2000, họa sĩ Phan Hải Bằng tìm hiểu và nghiên cứu về giấy. Để tạo ra được chất liệu Trúc Chỉ và đưa lên thành tác phẩm nghệ thuật là cả một hành trình dài nhiều gian nan. Trên bề mặt giấy truyền thống là những tạo hình phong phú, và rất đẹp khi được ánh nắng chiếu qua và ánh sáng đèn rọi vào. Các hình khối tác phẩm nổi lên trên bề mặt giấy tạo hình chiều sâu mỹ cảm, đồng thời gây nên sự tò mò về quá trình thực hiện một tác phẩm. 

Cuối năm 2018, tôi gặp Phan Hải Bằng khi anh chờ ngày bay sang Đức để thực hiện bộ tác phẩm Trúc Chỉ và trò chuyện khá lâu. Sau rất nhiều lần gặp, phỏng vấn Phan Hải Bằng không thành vì anh quá bận rộn, lần đầu tiên, trước giờ khởi hành cho một hoạt động nghệ thuật khác, anh đã dành cho tôi hai ngày để trò chuyện sâu hơn về Trúc Chỉ - tác phẩm nghệ thuật được khởi sinh từ văn hóa truyền thống Huế.

Anh có thể chia sẻ cảm nhận của cá nhân anh về nét đăc sắc của nghệ thuật truyền thống Huế?

- Huế là kinh đô cuối cùng của Việt Nam, nơi hội tụ và phát triển, lưu giữ của văn hóa, đặc biệt là văn hóa Nguyễn. Đặc tính của nền văn hóa này là sự dịch chuyển, hoà quyện và phản hồi nét Việt và văn hóa bản địa của địa đầu xứ Đàng Trong. Do đó, đặc trưng của văn hóa và nghệ thuật Huế chính là sự tiếp nhận, biến chuyển và tạo nên nét riêng mới mà vẫn mang âm hưởng truyền thống.

Là người Quảng Trị, phải chăng những điều trên cũng là lý do để anh gắn bó với Huế?

- Quê ba Quảng Trị, sinh ở Quảng Bình, sống ở quê mẹ là Huế, rể Quảng Nam, gần hết các yếu tố của Ngũ Quảng. Huế đẹp ở sự ẩn khuất của những giá trị, nền nếp và hóm hỉnh. Không quá phô trương nhưng vẫn mang nét đặc trưng duyên dáng riêng. Chính những vỉa tầng văn hóa ẩn giấu đã làm nên vẻ đẹp cho Huế mà không nơi nào có được

Đã có nhiều bài báo nói về các triển lãm, hội thảo của anh về Trúc Chỉ, thậm chí có tờ báo chuyên về văn hóa đã gọi anh là “ông tổ Trúc Chỉ”. Nhưng thực sự là hình ảnh Trúc Chỉ còn khá trừu tượng và chưa rõ ràng theo cách dễ hiểu nhất. Vậy anh có thể định nghĩa về Trúc Chỉ cho người chưa biết?

- Trúc Chỉ, một cách ngắn gọn, chính xác là: Nghệ thuật giấy - giấy nghệ thuật của Việt Nam với ý niệm tre - trúc là biểu tượng văn hóa và tinh thần Việt, chứ không phải chỉ là một loại nguyên liệu.

Trúc Chỉ là một phép ứng xử với truyền thống thông qua phép tiếp biến văn hóa.

Trúc Chỉ có thể được hiểu là con đẻ của nền văn hóa Huế, văn hóa Việt.

Trúc Chỉ là nỗ lực làm cho “giấy” có thêm khả năng thoát khỏi thân phận làm “nền” để trở thành một tác phẩm tự thân, độc lập.

Trúc Chỉ là hành trình từ chất liệu đến một loại hình nghệ thuật và đang được xây dựng thành một giá trị mới.

Nguyên do nào  để anh nghĩ tới việc cho ra đời Trúc Chỉ?

- Trúc Chỉ ra đời như một tất yếu, kết quả của nghiên cứu, sáng tạo và cả chút ngẵng nghịch của tâm thức nghệ sĩ. Qua hơn 10 năm nghiên cứu, tìm hiểu, thực nghiệm thành công với “giấy” thuần túy, định hướng: giấy - tác phẩm tự thân đã hình thành và trở nên hạt nhân của Trúc Chỉ bây giờ.

Hành trình của anh bắt đầu đến với Trúc Chỉ như thế nào?

- Từ năm 2000, tôi đã bắt đầu với việc tìm hiểu về giấy và cách làm giấy, để có thể tạo nên sự biểu đạt khác cho các tác phẩm đồ họa in ấn, những tấm giấy lúc này được hình thành với tất cả sự háo hức và vụng dại, nguyên liệu là giấy tái chế, giấy vệ sinh… Các bản in thử nghiệm trên những tấm giấy này mang lại sự hứng khởi mà sau đó nhanh chóng mất đi, bởi phẩm cách của chúng bộc lộ quá nhiều nhược điểm. Các nghiên cứu thể nghiệm này vẫn tiếp tục nhưng luôn bị gián đoạn, không liền lạc. Năm 2007, tôi nhận được học bổng Châu Á học (Asian Scholarship Foundation), và tiếp tục công việc nghiên cứu giấy thủ công với đề tài: “Nghiên cứu so sánh giấy thủ công Việt Nam - Thái Lan (quy trình, kỹ thuật) trong sáng tạo nghệ thuật” với thời gian hơn nửa năm điền dã ở làng Tonpao, huyện Sangkhampheng, Chiangmai, Thái Lan. Sau đó là những chuyến điền dã tại Bắc Ninh, Việt Nam về các xưởng giấy dó... Những tấm giấy đầu tiên đã hình thành tại Chiangmai với các loại kỹ thuật được truyền dạy bởi các nghệ nhân tại đây. Những hạt mầm về nghệ - thuật - giấy - tự - thân đã bắt đầu phôi thai từ những ngày tháng này. Bởi tâm thức của một họa sĩ đồ họa đã nảy sinh ý tưởng khai thác các quy trình và kỹ thuật của việc làm giấy với các nguyên lý của nghệ thuật Đồ họa cho những sự biểu hiện mới khác cho sáng tạo.

Một trong những kỹ thuật được truyền dạy từ các nghệ nhân ở Chiangmai là kỹ thuật dùng áp lực nước để làm thay đổi cấu trúc xơ sợi của tấm giấy, về sau, tôi được biết kỹ thuật này được sử dụng ở nhiều nước có nghề giấy thủ công: Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào, Thái Lan… Người ta dùng một vòi phun nước, phun vào bề mặt tấm giấy ướt, với các hoa văn đặt sẵn, áp lực nước làm cho tấm giấy có sự chênh lệch dày mỏng tương ứng với các hoa văn được đặt lên đó. Điều này ngay lập tức gợi liên tưởng tới nguyên lý chế bản của kỹ thuật in khắc kim loại (etching) trong nghệ thuật Đồ họa. Nếu như người ta chỉ phun nước một lần với những hoa văn đơn giản, cùng với tâm thức làm một nền trang trí đơn thuần, thì mình lại bắt đầu với tâm thức của việc xây dựng một tác phẩm, có bố cục, lớp lang, sắc độ… Do đó, vòi phun nước được sử dụng như một cây “bút” để tạo nên nhiều lớp, nhiều hệ thống sắc độ cùng nhiều lần phun, thậm chí còn được sử dụng để vờn tỉa… như một cây bút thực sự. Đây chính là cốt lõi và nền tảng của thuật ngữ “Đồ họa Trúc Chỉ” (trucchigraphy sau này). Tuy nhiên mãi đến năm 2011, tôi và các cộng sự mới thực sự có được một xưởng thực nghiệm trong khuôn viên trường Đại học Nghệ thuật Huế. Các tác phẩm đầu tiên ra đời tại đây. Các ý tưởng được hiện thực hóa. Các chất liệu gần gũi đều được khai thác và thể nghiệm: rơm, tre, mía, chuối, bèo, cỏ… Lúc này vẫn chưa có tên gọi Trúc Chỉ, mặc dù về bản chất đã mang đầy đủ các thành tố, tinh thần của Trúc Chỉ sau này. Một tác phẩm nghệ - thuật - giấy - tự - thân đã được trao giải thưởng công trình xuất sắc của năm do Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế trao tặng.

Tháng 4/2012, một triển lãm sắp đặt các tác phẩm giấy - tự - thân được tổ chức tại XQ Cổ Độ 49 Lê Lợi, Huế. Tại đây, tên gọi Trúc Chỉ đã được thầy Bửu Ý chính thức định danh, với ý niệm là một loại hình nghệ thuật giấy của người Việt, thông qua hình tượng cây Tre như biểu hiện văn hóa và tinh thần Việt. Kể từ đây dự án chính thức mang tên Nghệ thuật Trúc Chỉ Việt Nam và vận hành với ba tiêu chí: Thẩm mỹ, Giáo dục, Xã hội.

Những thuận lợi, khó khăn để có được tác phẩm Trúc Chỉ đầu tiên đối với anh, cụ thể là những gì?

- Những thuân lợi và khó khăn cụ thể về vật chất là có thật. Tuy nhiên khó khăn lớn nhất là làm thay đổi nhận thức của mọi người về khái niệm Trúc Chỉ, nghệ thuật giấy tự thân. Bởi quan niệm gần như định kiến về giấy - nền, làm cho nhận thức về giấy -  nghệ - thuật - tự - thân gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, cùng với nhiều nỗ lực, hoạt động… nhận thức của công chúng cũng đã được dần thay đổi. Những giải thưởng của Trúc Chỉ ở địa phương, trung ương và cả quốc tế đã góp phần rất lớn cho việc khẳng định loại hình nghệ thuật mới mẻ này.

Kỹ thuật của Trúc Chỉ bao gồm những khâu nào và khó nhất ở khâu nào, thưa anh?

- Quy trình kỹ thuật bao gồm hai phần chính: quy trình làm giấy và quy trình làm Trúc Chỉ. Làm giấy được khai thác từ quy trình truyền thống: nguyên liệu được ngâm, nấu, nghiền, rửa sạch rồi seo thành tấm giấy. Khi tấm giấy được hình thành trên khung, quy trình làm giấy coi như kết thúc. Lúc này là lúc quy trình Trúc Chỉ bắt đầu. Một trong những kỹ thuật quan trọng là Đồ họa Trúc Chỉ. Thuật ngữ này được xây dựng trên ba yếu tố: quy trình làm giấy; sử dụng áp lực nước; nguyên lý chế bản của nghệ thuật đồ họa. Việc dùng áp lực nước “ăn mòn” từng lớp bột giấy một tương ứng với việc ăn mòn từng lớp của tấm kim loại bằng dung dịch ăn mòn trong kỹ thuật in khắc kim loại (etching), điều này cho phép nghệ sĩ tạo nên được hệ thống sắc độ phong phú và nhuần nhị, nhất là khi tác phẩm tương tác với ánh sáng. Hai hiệu ứng ánh sáng: hiệu ứng bề mặt và hiệu ứng xuyên sáng có thể thấy được trên cùng một tấm Trúc Chỉ. Việc khó nhất chính là hình dung, tính toán và thể hiện hệ thống sắc độ trên một tác phẩm Trúc Chỉ - điều này tương ứng với hệ thống độ dày mỏng của tấm Trúc Chỉ.

Họa sĩ Phan Hải Bằng: Trúc Chỉ khai sinh từ văn hóa Huế

Việc tạo hình trên giấy có bắt buộc phải là nghệ sĩ nắm được kỹ thuật của Trúc Chỉ không?

- Chắc chắn là cần phải nắm được những kỹ thuật cơ bản của Trúc Chỉ mới có thể làm việc được với Trúc Chỉ. Tuy nhiên việc nắm bắt các kỹ thuật cơ bản đó lại khá dễ dàng và nhanh chóng. Vấn đề là làm sao cho đẹp thôi!

Anh có thể giới thiệu về xưởng sản xuất và những người đã cùng anh làm nên Trúc Chỉ?

- Mô hình của Trúc Chỉ là một không gian nghệ thuật mở, bài trí như một khu vườn với những không gian gợi những ý niệm về văn hóa và tinh thần, nằm trong thành nội Huế. Xưởng làm việc được chính các họa sĩ xếp đặt cho đúng tinh thần từng người và thuận tiện cho công việc. Chính các họa sĩ, đa phần là cựu sinh viên Đại học Nghệ thuật Huế, là những người trực tiếp tạo nên những tác phẩm Trúc Chỉ. Những người quản lý và điều hành dự án cũng được đào tạo trong các trường nghệ thuật. Người điều hành trực tiếp là họa sĩ Ngô Đình Bảo Vi, tốt nghiệp Trường Mỹ thuật TP. HCM. Ngoài ra, trong không gian Vườn Trúc Chỉ, có một khu vực gọi là không gian Năng lượng Trúc Chỉ, ở đây trưng bày chân dung Trúc Chỉ của những người đã đóng góp năng lượng, tinh thần và giúp cho Trúc Chỉ đi đúng định hướng Thẩm mỹ, Giáo dục, Xã hội. 

Vua Khải Định với tư tưởng cởi  mở và tôn trọng văn hóa, người lập chí cho Trúc chỉ. 

Thầy Bửu Ý, người lập danh. 

Sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh, lập ngôn. 

Thầy Nguyễn Hữu Thông, lập trí. 

Thầy Phan Thanh Bình, hiệu trưởng Đại học Nghệ thuật Huế, người đã tạo cơ hội cho xưởng thực nghiệm đầu tiên… Cùng với nhiều nhân sĩ, trí thức, nhà khoa học, nghệ sĩ khác nữa.

Với nhiều hoạt động nghệ thuật và trong suốt 19 năm qua, anh đã đưa Trúc Chỉ thành một nghệ thuật gắn liền với Huế như thế nào?

- Các triển lãm Trúc Chỉ luôn luôn lấy cảm hứng từ những biểu hiện thẩm mỹ của nghệ thuật Huế, nghệ thuật Nguyễn, có thể kể ra: Triển lãm “Đồng vọng” 2015 với cảm hứng từ cuốn sách “Mỹ thuật thời Chúa Nguyễn” của thầy Nguyễn Hữu Thông và Vicas Huế, được trưng bày ngay sân điện Cần Chánh, Đại nội Huế. Triển lãm “Trúc Chỉ - Điện Long An” tái hiện lại tác phẩm “Thần kinh nhị thập cảnh” của Vua Thiệu Trị, được trưng bày tại sân điện Long An, Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế 2016.

Việc kết hợp của Trúc Chỉ với các làng nghề truyền thống ở Huế để tạo nên các nghệ phẩm có tính chất tiếp biến văn hóa Huế: nón Trúc Chỉ - nón bài thơ, quạt, đèn lồng, tranh làng Sình, diều Huế… cũng tạo nên dấu ấn tốt về Trúc Chỉ.

Các workshop được tổ chức tại Vườn Trúc chỉ, số 5 Thạch Hãn và trường Đại học Nghệ thuật Huế luôn luôn thu hút được người tham gia. Đặc biệt là Dự án “Ngày Trúc Chỉ thứ nhất” được tổ chức vào các chủ nhật các tháng mùa hè dành cho thiếu nhi luôn luôn là sự mong đợi của các em nhỏ, các em được thỏa sức sáng tạo, vui chơi làm tranh… phụ huynh cũng rất hài lòng vì con em tạm thời xa rời các thiết bị điện tử. Bên cạnh đó là hoạt động trải nghiệm cho du khách tại vườn Trúc Chỉ số 5 Thạch Hãn cũng là một hoạt động được lựa chọn của rất nhiều tuor du lịch. Các hoạt động kể trên đã góp phần làm cho Trúc Chỉ trở thành một phần được nhắc tới khi đến Huế - nói cách khác, Huế đã có thêm một giá trị: Trúc Chỉ.

Vì sao lại là Trúc Chỉ - Huế?

- Ở vườn Trúc Chỉ số 5 Thạch Hãn có một cột mốc: Trúc Chỉ Km số 0. Điều này có ý nghĩa khẳng định quê hương của Trúc Chỉ chính là Huế. Việc lựa chọn quê hương cho Trúc Chỉ có ý nghĩa sâu xa từ việc được thừa hưởng một bề dày văn hóa của kinh đô xưa, nơi đã từng hội tụ những gì tinh túy nhất với tinh thần văn hóa, nghệ thuật cao nhất. Việc lựa chọn này cũng được sự đồng thuận và hưởng ứng của những tri kỷ và Năng lượng Trúc Chỉ.

Vậy Trúc Chỉ đã gắn bó trong đời sống thực tế của Huế ra sao?

- Trong đời sống ở Huế, Trúc Chỉ đã đi vào đời sống ở nhiều tầng bậc và đối tượng khác nhau, từ việc được lựa chọn là quà tặng cho Nhật Hoàng khi đến thăm Huế, từ việc Trúc Chỉ được chọn là quà tặng của tỉnh dành cho các doanh nghiệp xuất sắc của tỉnh, từ việc hiện diện của Trúc Chỉ ở văn phòng Chủ tịch tỉnh, cho đến các nghệ phẩm hiện diện trong đời sống như nón, quạt, đèn… tặng bạn bè, người thân. Sinh viên các ngành kiến trúc, mỹ thuật, thiết kế (không chỉ ở Huế) đã tìm hiều và lựa chọn Trúc Chỉ cho đồ án tốt nghiệp của mình. Nhiểu người trong số đó đã giành được những giải thưởng danh giá với đồ án về Trúc Chỉ.

Điều hay nhất là khi nghe về Huế, người ta đã bày tỏ: À, Huế có Trúc Chỉ đó! Như một sự tự nhiên thân thuộc!

Khi đến với Huế, anh đã giúp nhiều người đã tìm hiểu Trúc Chỉ như thế nào?

- Khi đến Huế, ngươi ta sẽ dành thời gian thăm viếng và thưởng lãm Vườn Trúc Chỉ, nơi trưng bày và trải nghiệm Trúc Chỉ. Du khách sẽ được các họa sĩ ở Vườn giới thiệu về khái niệm, không gian và các thành tựu của Trúc Chỉ. Được thị phạm phương cách tạo tác Trúc Chỉ, và tự tay mình hoàn thành tác phẩm Trúc Chỉ để mang về như một “chiến lợi phẩm” đầy hứng khởi.

Trước đây anh vẽ và làm tranh sơn mài chủ yếu về sen. Như tôi thấy, tranh của anh đã định hình phong cách, và có vị trí vững trong đời sống mỹ thuật Việt Nam.

- Chính xác là đề tài “Ngẫu liên”, liên quan đến sen và những biến tấu của sen, trên nhiều kỹ thuật chất liệu, trong đó có sơn mài và sơn mài tổng hợp. 

Khi tập trung cho Trúc Chỉ, ban đầu, tôi thấy anh còn miên man trong quá nhiều hình thức thể hiện mà tạm quên đi phong cách trước đây của mình?

- Cũng không hẳn như vậy, phong cách đó vẫn ẩn hiện đâu đó trong các tác phẩm với nhiều cách thức biểu hiện khác nhau. Chỉ là dành hầu hết thời gian cho việc nghiên cứu, thể nghiệm nên cũng có ít đi phần sáng tác.

Gần đây tôi lại thấy anh sáng tác nhiều, trong đó có những bức tranh khổ lớn, lấy Trúc Chỉ làm chất liệu, và tái hiện phong cách Phan Hải Bằng?

- Thời gian gần đây, khi Trúc Chỉ đã được xây dựng định hình và khẳng định giá trị cũng như quy trình của nó, việc sáng tác với loại hình nghệ thuật mới này đã là nguồn cảm hứng mới cho tôi, cũng như nhiều họa sĩ. Trúc chỉ thuần túy cũng như kết hợp với cá loại hình khác được ra đời và dĩ nhiên là vẫn phong cách xử lý đề tài đó, nhưng đã được xuất hiện dưới một ánh sáng khác, mới mẻ và hứng khởi hơn!

Cảm ơn anh nhiều về các thông tin quý giá. Chúc anh và Trúc Chỉ ngày càng có nhiều sáng tạo nghệ thuật mới, đóng góp thêm phong phú cho văn hóa Huế nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung. 

Họa sĩ Phan Hải Bằng là cử nhân Đại học Nghệ thuật Huế (1990-1995), Thạc sĩ Nghệ thuật Thị Giác, Đại học Maha Sarakham, Thái Lan (2012). Năm 2003 anh là họa sĩ nhiệm trú trong dự án Nghệ thuật và Văn hóa Mekong, chương trình được hỗ trợ bởi Quỹ Rockefeller, Đại học Silpakorn, Bangkok, Thái Lan. Từ năm 2007 đến 2008, họa sĩ Phan Hải Bằng nhân được Học bổng Châu Á học - ASF (Asian Scholarship Foundation), từ năm 2000 đến 2018 - tham gia diễn thuyết hơn 11 workshop về đồ họa trong nước và khu vực. Anh có tác phẩm ở 25 triển lãm nhóm và từ năm 1996 đến nay là giảng viên trường Đại học Nghệ thuật - Đại học Huế. Bên cạnh hoạt động sáng tác rõ ràng về phong cách, nhìn tranh có thể nhận ra ngay tác giả, Phan Hải Bằng điều hành và là cố vấn 11 dự án văn hóa nghệ thuật lớn, liên quan nhiều đến Huế như: Dự án nghệ thuật sắp đặt “Cổng thơ” (Festival Huế 2006); “Trại sáng tác Đồ họa – Huế lần thứ nhất”; “Trại sáng tác Đồ họa – Huế lần thứ hai”; “Triển lãm tam niên Đồ họa Macau lần thứ nhất” (1st  MPT); “Trại sáng tác Đồ họa TP HCM lần 5”; “Cuộc thi và Triển lãm Đồ họa ASEAN lần 2 - Hà Nội, 2016”; “Hành trình TRÚC CHỈ lần 1 -  Huế, 2017”… 

Họa sĩ Phan Hải Bằng đã nhận được nhiều giải thưởng, trong đó có 3 lần nhận giải thưởng của Hội Mỹ thuật Việt Nam, 2 lần nhận Giải thưởng của Liên hiệp các hội Văn học và Nghệ thuật Việt Nam; Giải thưởng Việt Nam – Asia Arts Award, Phillip Morris Corp… 

Nguyễn Quỳnh Trang (thực hiện)