




Quảng Ninh là địa phương sở hữu điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển nuôi biển với hệ thống vịnh, tùng, áng kín gió có nguồn nước sạch, độ mặn ổn định, giàu sinh vật phù du cho phép nuôi nhiều đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao như hàu, ngao hoa, cá song, cá chim... Điều này không chỉ tạo sinh kế cho hàng nghìn người dân bám biển mà còn đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Đây cũng là nền tảng để Quảng Ninh xác định chuyển mạnh từ khai thác sang nuôi biển công nghệ cao, hướng tới phát triển kinh tế biển xanh và bền vững.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, nhiều năm qua tỉnh đã tập trung quy hoạch không gian biển, từng bước sắp xếp lại hoạt động nuôi trồng thủy sản, khuyến khích chuyển đổi phao xốp sang vật liệu nổi hợp quy, thân thiện với môi trường (HDPE), giảm áp lực khai thác ven bờ và nâng cao giá trị sản xuất.
Hiện Quảng Ninh đã quy hoạch khoảng 45.000ha mặt biển cho nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, do công tác giao khu vực biển trên địa bàn tỉnh còn nhiều khó khăn, vướng mắc nên tiềm năng, lợi thế từ biển Quảng Ninh vẫn chưa được khai thác tương xứng.
Nội dung này đã được Thanh tra tỉnh Quảng Ninh nêu rõ trong kết luận thanh tra việc chấp hành chính sách pháp luật trong nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2020 - 2025. Kết luận khẳng định: Đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền của Tỉnh, tiến độ giao khu vực biển còn chậm, chưa đảm bảo tiến độ, yêu cầu. Đặc biệt là tiến độ giao khu vực biển cho tổ chức, doanh nghiệp còn rất thấp. Còn nhiều trường hợp đang trong quá trình thực hiện thủ tục, hoàn thiện hồ sơ đề nghị giao khu vực biển nhưng chưa được các địa phương rà soát, tổng hợp (chưa rõ đối tượng, diện tích, thời điểm sử dụng).

Cập nhật số liệu từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, đến tháng 6/2026, toàn tỉnh mới giao khu vực biển cho 57 tổ chức (gồm 25 doanh nghiệp và 32 HTX), với tổng diện tích hơn 4.711ha; đồng thời giao cho 807 cá nhân với tổng diện tích hơn 520ha. Một số đơn vị sau khi được giao biển tại khu vực Cô Tô, Vân Đồn, Cái Chiên đã phát huy hiệu quả, góp phần hình thành các vùng nuôi tập trung theo hướng chuyên nghiệp.
Mặc dù vậy, nếu đặt những con số này bên cạnh quy mô quy hoạch khoảng 45.000ha mặt biển của tỉnh thì có thể thấy diện tích đã được giao vẫn còn khá “khiêm tốn”.
Và đằng sau những con số ấy là một nghịch lý tồn tại nhiều năm nay, đó là quy hoạch đã có, nhu cầu của người dân và doanh nghiệp thì rất lớn, nhưng tiến độ giao khu vực biển vẫn chưa theo kịp thực tiễn phát triển.
Việc chậm giao khu vực biển đang trở thành một trong những “điểm nghẽn” đối với phát triển nuôi biển của Quảng Ninh. Khi chưa được giao mặt biển chính thức, nhiều hộ nuôi, HTX và doanh nghiệp thiếu cơ sở pháp lý để yên tâm đầu tư, mở rộng sản xuất, trong khi cơ quan quản lý cũng gặp khó khăn trong việc quản lý hoạt động sử dụng mặt biển và thu các nghĩa vụ tài chính theo quy định. Thực trạng này không chỉ làm giảm hiệu quả khai thác tài nguyên biển mà còn khiến một nguồn lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế biển chưa được phát huy tương xứng. Từ đó đặt ra yêu cầu phải sớm tháo gỡ các vướng mắc trong giao khu vực biển, tạo hành lang pháp lý ổn định cho người nuôi, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác bền vững tài nguyên biển.

Có mặt tại khu vực Hòn Ông Cụ, vùng biển Cẩm Phả vào trung tuần tháng 7, điều đầu tiên chúng tôi cảm nhận được là sự trầm lắng khác hẳn không khí tấp nập mua bán của một làng chài nổi tiếng trước đây. Trên mặt biển, những dãy lồng nuôi cá song, cá chim nối tiếp nhau, tàu thuyền của người dân vẫn cần mẫn qua lại chăm sóc bè nuôi. Nhưng phía sau khung cảnh ấy là tâm trạng thấp thỏm, nặng trĩu của những chủ bè vì chưa hoàn tất thủ tục giao khu vực biển.
Theo báo cáo của UBND phường Cẩm Phả, khu vực Hòn Ông Cụ hiện có 97 hộ nuôi cá trên biển. Trong đó chỉ có 15 hộ đã được cấp phép từ trước, còn 82 hộ vẫn đang sản xuất nhưng chưa hoàn thiện đầy đủ cơ sở pháp lý theo quy định. Điều đó đồng nghĩa với việc người dân vẫn duy trì sinh kế trên chính vùng biển đã gắn bó nhiều năm, song chưa thể yên tâm đầu tư lâu dài.

Nỗi lo ấy hiện hữu trong câu chuyện của chị Nguyễn Thị Thu, HTX Nuôi trồng thủy sản và Dịch vụ thương mại xuất nhập khẩu Phúc Nam. Gần 10 năm gắn bó với vùng biển này, hợp tác xã đã đầu tư khoảng 20 tỷ đồng để phát triển nuôi cá biển. Toàn bộ cơ sở vật chất, lồng bè, con giống đều được đầu tư bài bản với mong muốn phát triển sản xuất ổn định. Thế nhưng đến nay, dù đã nhiều lần hoàn thiện hồ sơ theo hướng dẫn của cơ quan chức năng, việc giao khu vực biển vẫn chưa thể hoàn tất.
"Điều chúng tôi mong nhất là được sớm hoàn thiện thủ tục để yên tâm đầu tư lâu dài. Bỏ ra số vốn lớn nhưng lúc nào cũng trong tâm trạng chờ đợi thì rất khó xây dựng kế hoạch sản xuất", chị Thu chia sẻ.
Theo quy định tại khoản 10, Điều 24 Luật Đầu tư năm 2025 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2026), các dự án có đề nghị nhà nước giao khu vực biển thuộc đối tượng phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư.
Cùng chung tâm trạng ấy là anh Đỗ Như Đạo, Giám đốc HTX Nuôi trồng thủy sản và Thương mại xuất nhập khẩu Hướng Dương. Gần 20 năm gắn bó với nghề nuôi biển, anh cho biết hồ sơ của HTX nhiều lần phải bổ sung, điều chỉnh để đáp ứng các quy định mới. Có thời điểm, hồ sơ vừa gần hoàn thiện thì quy định pháp luật thay đổi, buộc phải thực hiện thêm những thủ tục khác.
Theo anh Đạo, khó khăn lớn nhất hiện nay không nằm ở việc người dân không chấp hành quy định, mà ở chỗ quy định thay đổi trong khi nhiều hồ sơ đang được giải quyết dở dang. Các HTX nhỏ không đủ nguồn lực để liên tục thuê đơn vị tư vấn hoàn thiện hồ sơ theo những yêu cầu mới phát sinh.
Không chỉ vậy, khi chưa được giao khu vực biển, người nuôi cũng gặp hàng loạt khó khăn trong quá trình sản xuất. Từ việc không đủ điều kiện để được cấp mã số vùng nuôi phục vụ xuất khẩu, không thể tiếp cận bảo hiểm nuôi trồng thủy sản, đến hạn chế trong việc vay vốn tín dụng hoặc mở rộng quy mô đầu tư. Mỗi thủ tục chưa hoàn tất đều kéo theo nhiều cơ hội bị bỏ lỡ.
Để tìm hướng tháo gỡ, 22 hộ dân tại khu vực này đã thống nhất liên kết, cử một đại diện đứng ra thực hiện thủ tục xin chủ trương đầu tư. Tuy nhiên, giải pháp tình thế ấy lại phát sinh những bất cập mới bởi các hộ nuôi nằm ở nhiều vị trí khác nhau, quy mô và nhu cầu sản xuất không giống nhau. Nếu chỉ có một chủ thể đứng tên thực hiện dự án thì việc vay vốn, đầu tư và xác lập quyền lợi của từng hộ lại trở thành bài toán không dễ giải quyết.
Điều đáng chú ý là những khó khăn ở Cẩm Phả không phải trường hợp cá biệt.

Tại xã Đầm Hà, khu vực quy hoạch khoảng 800ha để thu hút đầu tư nuôi trồng thủy sản cũng đang chứng kiến tình trạng nhiều tổ chức, HTX sau khi nộp hồ sơ, dù chưa được phê duyệt đã tự khoanh vùng, quây ô để thả nuôi ngao hoa trong lúc chờ được giao khu vực biển. Chính quyền địa phương nhiều lần tổ chức tháo dỡ, xử lý vi phạm, song việc người dân tiếp tục quay lại sản xuất cho thấy nhu cầu về mặt nước nuôi trồng là rất lớn.
Còn tại xã Quảng Hà đã quy hoạch được hơn 210 ha không gian mặt nước, bãi triều để nuôi trồng thủy sản. Đến thời điểm tháng 3/2026, trên địa bàn chưa có trường hợp nào được giao khu vực biển. Vì thế, tình trạng nuôi tự phát tại đây diễn ra rất phức tạp. Chính quyền xã đã rất nhiều lần ra quân tháo dỡ hàng trăm hécta lưới vây, cọc gỗ và các công trình nuôi trái phép, nhưng sau mỗi đợt xử lý, vi phạm vẫn tái diễn. Theo thống kê của xã Quảng Hà, chỉ tính riêng từ cuối năm 2025 đến đầu năm 2026, các tổ công tác của xã đã tiến hành tháo dỡ, thu gom hơn 220ha cho đến hơn 300ha công trình vi phạm bao gồm cọc gỗ, lưới vây (nuôi ngao hoa) và vật liệu không đúng quy định; cưỡng chế tháo dỡ hơn 40 bè nuôi thủy sản trái phép với diện tích khoảng 4.000m².

Theo ghi nhận của phóng viên, nguyên nhân của tình trạng trên không chỉ xuất phát từ ý thức của một bộ phận người dân mà còn bởi nhu cầu sản xuất rất lớn trong khi tiến độ giao khu vực biển chưa đáp ứng được thực tế.
Rõ ràng, khi nhu cầu sinh kế và phát triển sản xuất đi nhanh hơn tiến độ hoàn thiện các thủ tục pháp lý, khoảng cách giữa thực tiễn và chính sách sẽ ngày càng bộc lộ rõ hơn. Người dân vẫn phải bám biển để mưu sinh, doanh nghiệp vẫn phải duy trì đầu tư để không đứt gãy sản xuất, còn chính quyền địa phương lại đứng trước áp lực vừa phải quản lý chặt chẽ tài nguyên biển, vừa tìm cách tháo gỡ những khó khăn phát sinh từ thực tiễn.
Nhìn từ những vùng nuôi biển của Quảng Ninh có thể thấy, câu chuyện giao khu vực biển không còn đơn thuần là việc hoàn thiện một bộ hồ sơ hay giải quyết một thủ tục hành chính. Đằng sau mỗi hồ sơ còn tồn đọng là sinh kế của người dân, là dòng vốn đã được đầu tư, là kỳ vọng phát triển của doanh nghiệp và cũng là bài toán quản lý tài nguyên biển đặt ra đối với chính quyền các cấp.
Bài 2: Những điểm nghẽn nhìn từ thực tiễn
