logo

eMagazine

Bài 1: Đưa khoa học, công nghệ vào giải những bài toán của Thủ đô

Từ chống ngập, xử lý rác thải, cứu hộ trong ngõ nhỏ đến phát triển robot tự hành và công nghệ chế biến đất hiếm, Hà Nội đang từng bước chuyển hoạt động khoa học, công nghệ (KHCN) từ các nhiệm vụ nghiên cứu riêng lẻ sang giải quyết những bài toán xuất phát từ nhu cầu thực tiễn. Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu mới: mỗi nhiệm vụ không chỉ cần có kết quả nghiên cứu mà còn phải xác định được sản phẩm, địa chỉ ứng dụng và giá trị mang lại.

Bài 1: Đưa khoa học, công nghệ vào giải những bài toán của Thủ đô

Sau 9 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển KHCN đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội đang từng bước thay đổi cách tổ chức các nhiệm vụ KHCN. Thay vì tập trung vào chương trình, kế hoạch và số lượng đề tài, TP chú trọng hơn đến những bài toán cần giải quyết, sản phẩm đầu ra và địa chỉ ứng dụng.

Sở KHCN Hà Nội thông tin, trong 9 tháng đầu năm 2026, giá trị tăng thêm của lĩnh vực KHCN và chuyển đổi số ước đạt 22,85% GRDP, tương đương khoảng 295.900 tỷ đồng. Kinh tế số chiếm khoảng 16,7% GRDP TP, tăng 13,25% so với cùng kỳ theo giá hiện hành.

Bài 1: Đưa khoa học, công nghệ vào giải những bài toán của Thủ đô

Năm 2026, Hà Nội bố trí 9.090,399 tỷ đồng cho KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tương đương 4% tổng chi ngân sách, gồm 5.560 tỷ đồng chi đầu tư và 3.530,399 tỷ đồng chi thường xuyên (gấp khoảng 10,7 lần dự toán sau điều chỉnh năm 2024 và 15,4 lần dự toán giao đầu năm 2025). Tiến độ giải ngân kinh phí đến ngày 6/10/2026 đạt 40,33%,

Đáng chú ý, TP đã xác định 30 bài toán lớn cần KHCN và đổi mới sáng tạo tham gia giải quyết trong giai đoạn 2026-2030. Đến tháng 9/2026, Sở KHCN tiếp nhận khoảng 160 đề xuất đặt hàng từ các sở, ngành, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân.

Một bước cụ thể hóa được thực hiện ngày 25/9, khi Sở KHCN tổ chức phiên đặt hàng nhiệm vụ KHCN và đổi mới sáng tạo từ nhu cầu doanh nghiệp. Tại đây, 36 bài toán, nhiệm vụ từ 18 doanh nghiệp, hiệp hội và tổ chức được tiếp nhận, trải rộng trên các lĩnh vực môi trường, an toàn cháy nổ, truy xuất nguồn gốc, logistics, nông nghiệp công nghệ cao và y tế cộng đồng số.

Các đề xuất cho thấy nhu cầu công nghệ xuất phát từ những vấn đề cụ thể của đời sống đô thị. Trong lĩnh vực môi trường, doanh nghiệp đặt vấn đề xử lý chất thải rắn sinh hoạt, phát triển công nghệ chống ngập và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn. Với công tác cứu hộ, cứu nạn, yêu cầu đặt ra là phát triển thiết bị có khả năng tiếp cận những khu vực ngõ nhỏ, nơi xe chuyên dụng thông thường gặp khó khăn. Trong sản xuất, các làng nghề như Bát Tràng, Vạn Phúc, Chuyên Mỹ, Sơn Đồng cần công nghệ hỗ trợ thiết kế, cải tiến quy trình và nâng cao giá trị sản phẩm.

Bài 1: Đưa khoa học, công nghệ vào giải những bài toán của Thủ đô

Giám đốc Sở KHCN Hà Nội Cù Ngọc Trang cho biết, qua làm việc với các làng nghề, cơ quan quản lý nhận thấy nhiều cơ sở có sản phẩm, tay nghề và dư địa mở rộng thị trường nhưng vẫn cần hỗ trợ công nghệ từ khâu thiết kế, sản xuất đến nâng cao giá trị. Trong khi đó, các viện, trường có kết quả nghiên cứu triển vọng nhưng chưa tìm được nơi ứng dụng và kiểm chứng phù hợp.

Theo ông Cù Ngọc Trang, việc đặt hàng phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của doanh nghiệp; kết quả nghiên cứu cần hướng tới ứng dụng, thương mại hóa và tạo ra giá trị có thể đo đếm được. Vì vậy, mỗi đề xuất cần xác định rõ chủ thể có nhu cầu, địa chỉ sử dụng, sản phẩm mong muốn và tiêu chí đánh giá hiệu quả. Nếu thị trường đã có giải pháp phù hợp, ưu tiên nên là kết nối chuyển giao; chỉ đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu mới khi công nghệ hiện có chưa đáp ứng yêu cầu.

Bài 1: Đưa khoa học, công nghệ vào giải những bài toán của Thủ đô

Cách tiếp cận theo bài toán thực tiễn đang được thể hiện qua một số nhiệm vụ đã có kết quả cụ thể. Trong lĩnh vực cứu hộ, cứu nạn, Hà Nội triển khai nhiệm vụ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và thử nghiệm xe thang cứu hộ có tầm vươn 32 m và 56 m, do Công ty CP Tập đoàn ô tô Hiệp Hòa chủ trì, phối hợp với các viện, trường và doanh nghiệp. Phiên bản đầu tiên đã được giới thiệu tại triển lãm. Sản phẩm được kỳ vọng có giá thành cạnh tranh hơn so với thiết bị nhập khẩu; mức chênh lệch cụ thể cần được xác nhận bằng số liệu.

Bài 1: Đưa khoa học, công nghệ vào giải những bài toán của Thủ đô

Ở nhóm công nghệ y tế, máy phát tia plasma lạnh PlasmaMED thế hệ II đã chế tạo thử nghiệm 20 máy, làm chủ các khâu thiết kế, chế tạo, tích hợp phần cứng, phần mềm và sản xuất vật tư tiêu hao, được cấp bằng sáng chế; đồng thời đào tạo 30 người vận hành. Giá bán dự kiến khoảng 1,6 tỷ đồng mỗi máy. Sản phẩm được kỳ vọng có khả năng thay thế một phần thiết bị nhập khẩu và phát triển thị trường trong nước, quốc tế.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, kết quả nghiên cứu, nuôi và phát triển cá ngạnh tại Hà Nội cho lợi nhuận trung bình hơn 20,4 triệu đồng mỗi lồng 100 m³, tỷ suất sinh lời 36%. Với mô hình nuôi trong ao, lợi nhuận đạt hơn 180 triệu đồng/ha, tỷ suất sinh lời 33,7%. Đây là căn cứ để chuyển giao quy trình và đánh giá điều kiện nhân rộng trong sản xuất.

Những số liệu này cho thấy hiệu quả nghiên cứu có thể được xem xét thông qua năng suất, lợi nhuận và khả năng áp dụng vào sản xuất, thay vì chỉ dừng ở kết quả nghiệm thu.

Bài 1: Đưa khoa học, công nghệ vào giải những bài toán của Thủ đô

Đối với công nghệ chiến lược, Hà Nội ban hành Quyết định số 4217/QĐ-UBND ngày 12/8/2026, xác định 9 nhóm công nghệ chiến lược và 25 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên giai đoạn 2026-2035. Các lĩnh vực được chú trọng gồm trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, cảm biến thế hệ mới, robot tự hành, thiết bị bay không người lái, dữ liệu lớn, bản sao số và blockchain phục vụ quản trị đô thị thông minh.

Một số nhiệm vụ đang được triển khai theo mô hình liên kết Nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp, trong đó có nghiên cứu, chế tạo thử nghiệm nền tảng Camera AI biên đa dụng thế hệ mới, do doanh nghiệp NST chủ trì cùng Đại học Bách khoa Hà Nội. TP cũng xem xét các đề xuất như vòng đeo tay y tế thông minh hỗ trợ người cao tuổi, bản sao số hệ thống thoát nước đô thị và lò nung gốm sứ bằng điện thông minh ứng dụng AI tại làng nghề Bát Tràng.

Bài 1: Đưa khoa học, công nghệ vào giải những bài toán của Thủ đô

Một hướng triển khai khác là thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ mới. Đến ngày 20/9/2026, Hà Nội đã tiếp nhận chính thức 4 hồ sơ sandbox; trong đó, 2 hồ sơ được cho phép thử nghiệm, 1 hồ sơ đủ điều kiện tổ chức hội đồng thẩm định và 1 hồ sơ được yêu cầu bổ sung, hoàn thiện. Ngoài ra, 9 đề xuất đang được hướng dẫn hoàn thiện. Hai dự án được phép thử nghiệm liên quan đến hệ thống giao thông tự hành thông minh và công nghệ sản xuất tổng oxit đất hiếm hàm lượng trên 95%.

Việc mở môi trường thử nghiệm có ý nghĩa với những công nghệ mới chưa có đầy đủ tiền lệ triển khai. Qua thử nghiệm trong điều kiện thực tế, cơ quan quản lý và doanh nghiệp có thể đánh giá khả năng vận hành, nhận diện rủi ro và hoàn thiện giải pháp trước khi xem xét mở rộng ứng dụng.

Bài 1: Đưa khoa học, công nghệ vào giải những bài toán của Thủ đô

Bên cạnh những kết quả bước đầu, khoảng cách giữa nghiên cứu, thử nghiệm và thị trường vẫn là vấn đề cần giải quyết. Sàn Giao dịch công nghệ Hà Nội (HanoTEX) và Chợ Chuyển đổi số đi vào hoạt động từ tháng 2/2026, tạo thêm kênh kết nối cung – cầu công nghệ. Đến tháng 9, HanoTEX có 242 tài khoản đăng ký, 227 doanh nghiệp tìm hiểu và đăng ký niêm yết, 44 công nghệ, giải pháp chào bán và 80 nhu cầu tìm mua. Trong tháng, sàn ghi nhận 18 lượt tư vấn công nghệ, 6 lượt tư vấn môi giới, kết nối cung – cầu và 28 thỏa thuận hợp tác. Tuy nhiên, sàn chưa phát sinh hợp đồng giao dịch công nghệ thành công.

Thực tế này cho thấy việc hình thành nền tảng kết nối mới chỉ là điều kiện ban đầu. Để doanh nghiệp quyết định đầu tư, công nghệ cần được đánh giá về chất lượng, mức độ sẵn sàng, chi phí và khả năng đáp ứng nhu cầu. Các vấn đề về định giá tài sản trí tuệ, nguồn vốn, địa điểm thử nghiệm và khách hàng đầu tiên cũng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình thương mại hóa.

Bài 1: Đưa khoa học, công nghệ vào giải những bài toán của Thủ đô

Tính đến cuối tháng 9/2026, Sở KHCN đã tiếp nhận 124 kiến nghị của doanh nghiệp KHCN, trong đó 62 kiến nghị đã được giải quyết. Những vấn đề được phản ánh tập trung vào vốn, thị trường và khách hàng đầu tiên, môi trường thử nghiệm, cơ chế công nhận và tài sản trí tuệ, chuyển đổi số, nhân lực và liên kết với viện, trường.

Theo ông Cù Ngọc Trang, doanh nghiệp công nghệ gặp khó khăn bởi tài sản chủ yếu là tri thức, công nghệ và con người – những nguồn lực không dễ sử dụng để thế chấp hoặc chứng minh bằng các hợp đồng trong quá khứ. Ông nhấn mạnh: “Gỡ một điểm nghẽn cho doanh nghiệp công nghệ là mở đường cho năng suất của nhiều doanh nghiệp khác, và cho mô hình tăng trưởng dựa trên KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Thủ đô và đất nước”.

Bài 1: Đưa khoa học, công nghệ vào giải những bài toán của Thủ đô

Bài toán đặt ra trong giai đoạn tiếp theo vì vậy không chỉ là tiếp nhận thêm đề xuất hay triển khai thêm nhiệm vụ nghiên cứu. Hà Nội cần xác định rõ sản phẩm sẽ được sử dụng ở đâu, đơn vị nào tiếp nhận, hiệu quả được đo bằng tiêu chí gì và cơ chế nào giúp công nghệ đi từ thử nghiệm đến ứng dụng rộng rãi.

KHCN chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng khi những lời giải nghiên cứu có thể vận hành trong đời sống, giúp giải quyết các vấn đề đô thị, nâng cao năng suất doanh nghiệp và tạo ra giá trị kinh tế. Đây cũng là thước đo quan trọng đối với quá trình Hà Nội triển khai Nghị quyết 57 trong thời gian tới.

(Còn nữa)

--------------------------

Thực hiện: Thu Hương - Huyền Trang