


Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt quan tâm chăm lo xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Qua các thời kỳ cách mạng từ cao trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh (1930 - 1931), “Đội Tự vệ đỏ” được thành lập để hỗ trợ, bảo vệ quần chúng nổi dậy phá nhà giam, đốt huyện đường, vây đồn lính, bắt giữ bọn hào lý, làm tan rã từng mảng chính quyền tay sai của đế quốc ở cơ sở; bảo vệ cán bộ, bảo vệ các phiên tòa của Xô Viết công nông xét xử bọn phản cách mạng; giữ gìn an ninh, trật tự ở những nơi có chính quyền Xô Viết.
Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp đàn áp khốc liệt phong trào cách mạng Việt Nam, hàng ngàn cán bộ, đảng viên bị địch bắt, tù đày, Đảng ta rút vào hoạt động bí mật. Đầu năm 1940, Trung ương Đảng chủ trương thành lập “Ban Công tác đội” làm nhiệm vụ bảo vệ An toàn khu (ATK), bảo vệ cán bộ cao cấp của Đảng, giải thoát cho cán bộ khi bị địch bắt. “Ban Công tác đội” được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương, được trang bị vũ khí và huấn luyện.

Ngày 15/5/1945, Xứ ủy Bắc Kỳ thành lập “Đội danh dự trừ gian” do Xứ ủy trực tiếp chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ diệt trừ bọn Việt gian đầu sỏ và vũ trang tuyên truyền, chiến đấu khi cần thiết. Ngày 04/6/1945, Tổng bộ Việt Minh tuyên bố thành lập Khu giải phóng, gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên và một số vùng ngoại vi thuộc các tỉnh: Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái; đồng thời công bố 10 chính sách lớn của Việt Minh. Ngay sau đó, các tổ chức “Đội trinh sát”, “Đội hộ lương diệt ác” lần lượt ra đời cùng với “Đội tự vệ đỏ”, “Ban Công tác đội” và “Đội danh dự trừ gian” làm nhiệm vụ thủ tiêu lực lượng của phát xít Nhật, diệt trừ bọn Việt gian, trừng trị bọn lưu manh, bảo vệ chính quyền cách mạng, thực hiện 10 chính sách lớn của Việt Minh.
Ngày 19/8/1945, cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi ở Hà Nội, cùng với đập tan các cơ quan đàn áp của địch, thiết lập chính quyền cách mạng, ở Bắc Bộ, Sở Liêm phóng được thành lập; ở Trung Bộ, lập Sở Trinh sát; ở Nam Bộ lập Quốc gia tự vệ cuộc. Đối với cấp tỉnh, tại Bắc Bộ có Ty Liêm phóng; tại Trung Bộ có Ty Trinh sát, riêng Nghệ An và Hà Tĩnh thành lập Công an Cục; tại Nam Bộ thiết lập Quốc gia tự vệ cuộc. Đối với cấp huyện: ở Bắc Bộ, Trung Bộ gọi là Trinh sát huyện, ở Nam Bộ gọi là Quốc gia tự vệ cuộc huyện. Đối với cấp xã: dựa theo tổ chức Ủy ban Dân tộc giải phóng ngày 16/4/1945 do Tổng bộ Việt Minh đề ra, hầu hết các xã đều có ủy viên bảo an, tự vệ . Tuy tên gọi khác nhau nhưng các tổ chức đầu tiên của lực lượng Công an nhân dân đều làm nhiệm vụ đấu tranh trấn áp bọn phản cách mạng, giữ gìn an ninh, trật tự, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ vừa mới được thành lập, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.

Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Nước Việt Nam vừa mới ra đời đã phải đương đầu với nhiều thử thách. Ở Bắc Bộ, 20 vạn quân Tưởng dưới danh nghĩa quân Đồng minh vào tước vũ khí của quân Nhật mang theo bọn đặc vụ và bọn phản động lưu vong trong các tổ chức “Việt Nam Quốc dân Đảng”, “Việt Nam Cách mạng đồng minh hội” chiếm đóng từ vĩ tuyến 16 trở ra, mưu đồ tiêu diệt Đảng ta, phá tan Việt Minh, giúp bọn phản động lật đổ chính quyền cách mạng. Ở miền Nam, 2 vạn quân Anh kéo vào với danh nghĩa tước vũ khí quân đội Nhật, nhưng thực chất là mở đường cho thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa.
Ngày 23/9/1945, quân Pháp trắng trợn đánh chiếm Sài Gòn rồi mở rộng đánh chiếm toàn Nam Bộ. Bọn phản cách mạng như “Đại Việt”, “Việt Nam Quốc dân Đảng”, bọn tờrốtkít, bọn phản động lợi dụng tôn giáo và Việt gian tay sai của Pháp cũng ngóc đầu dậy chống phá cách mạng quyết liệt. Tình hình kinh tế của ta gặp rất nhiều khó khăn, tài chính kiệt quệ, gần 2 triệu người chết đói, hơn 90% dân số mù chữ. Chính quyền cách mạng đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.

Các lực lượng Liêm phóng, Trinh sát, Quốc gia tự vệ cuộc vừa mới thành lập phải bắt tay ngay vào cuộc đấu tranh quyết liệt chống “thù trong, giặc ngoài”, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng. Nhiệm vụ bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ nhân dân vốn đã khó khăn lại càng khó khăn bội phần khi lực lượng còn quá mỏng, nghiệp vụ đánh địch còn đơn giản.
Những thế hệ cán bộ, chiến sĩ đầu tiên của lực lượng An ninh nhân dân đã vượt qua hoàn cảnh khó khăn, dựa vào nhân dân; sau gần một năm kiên trì đấu tranh, đã khéo léo vận dụng pháp luật, trấn áp nhiều tổ chức phản động manh động chống chính quyền, bắt và trừng trị nhiều tay sai chỉ điểm, từng bước vô hiệu hóa hoạt động chống phá của các thế lực nội phản câu kết với giặc ngoại xâm.
Đặc biệt, ngày 12/7/1946, lực lượng An ninh đã chỉ đạo khám phá vụ án phản cách mạng ở số 7, phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều, Hà Nội), đập tan âm mưu đảo chính, lật đổ chính quyền cách mạng của Quốc dân Đảng câu kết với thực dân Pháp, bảo vệ an toàn chính quyền cách mạng non trẻ, ghi dấu ấn trọng đại trong lịch sử đấu tranh cách mạng của đân tộc.
Kết quả đó đã góp phần từng bước đẩy lùi âm mưu của các thế lực nội phản; phá vỡ thế liên kết thù trong với giặc ngoài, tạo điều kiện để Chính phủ triển khai những chính sách mới, củng cố chính quyền cơ sở, nâng cao một bước đời sống vật chất và giác ngộ chính trị cho nhân dân.

Bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược, nhiệm vụ của lực lượng Công an là nhanh chóng di chuyển hồ sơ tài liệu, di chuyển trại giam; bảo vệ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, bảo vệ cơ quan, kho tàng, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân; theo dõi và đuổi các đối tượng có nguy hại cho an ninh ra khỏi khu vực chiến sự có thể xảy ra, bắt đưa đi an trí những đối tượng xét thấy nguy hại cho cuộc kháng chiến; bảo vệ bí mật quân sự, đồng thời tăng cường công tác nắm tình hình địch; giữ gìn an ninh, trật tự ở những vùng nông thôn hậu phương; những nơi địch chiếm đóng, một bộ phận công an ở lại xây dựng và phát triển cơ sở để tổ chức đấu tranh chống phá chính quyền địch.
Trong giai đoạn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 23/SL, ngày 21/2/1946 hợp nhất các Sở Cảnh sát và các Sở Liêm phóng toàn quốc thành “Việt Nam Công an vụ”. Ngày 18/4/1946, thực hiện sắc lệnh số 23/SL, Bộ Nội vụ ban hành Nghị định 121-NV/NĐ về tổ chức Việt Nam Công an vụ, gồm ba cấp: Công an Việt Nam, Công an kỳ, Công an tỉnh.
Ở Trung ương gọi là Nha Công an Việt Nam. Ở ba miền Bắc, Trung, Nam gọi là Sở Công an. Ở tỉnh gọi là Ty Công an. Theo đó, hệ thống ngành dọc của lực lượng Chính trị (An ninh nhân dân) gồm: tại Nha Công an và Sở Công an kỳ có Phòng Chính trị; tại Ty Công an tỉnh có Ban Chính trị.
Ngày 29/01/1947, Nha Công an ra quyết định số A00092 về tổ chức và chương trình hoạt động của bộ máy Công an thời chiến. Theo Quyết định, Phòng Chính trị tại Nha Công an phát triển thành Ty Chính trị (Tổng cục An ninh sau này). Ty Chính trị chỉ đạo nghiệp vụ ở Bắc Bộ và Trung Bộ, địa bàn Nam Bộ do Sở Công an Nam Bộ chỉ đạo; ngày 05/4/1948, Bộ Nội vụ ra Nghị định số 219-NV/NĐ về “Tổ chức Nha Công an Việt Nam”, trong đó hệ thống ngành dọc của lực lượng Trinh sát Chính trị gồm: ở Nha Công an Việt Nam có Ty Chính trị thực hiện công tác an ninh, ở các Sở Công an có các Phòng Chính trị, Sở Công an tỉnh có Ban Chính trị, Công an quận có bộ phận Trinh sát chính trị.
Ngày 16/02/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 141/SL đổi tên Nha Công an Việt Nam thành Thứ Bộ Công an. Theo sắc lệnh, Thứ Bộ Công an có 07 đầu mối trực thuộc, trong đó Vụ Bảo vệ chính trị thực hiện công tác an ninh. Triển khai Sắc lệnh số 141/SL, ngày 13/5/1953, Thứ Bộ Công an ra Nghị định số 74-NgĐ quy định tổ chức từ Thứ bộ đến các khu, sở, ty công an.
Theo đó, ở Thứ Bộ Công an có Vụ Bảo vệ chính trị, gồm có: Bộ phận Văn thư, Phòng Điều tra nghiên cứu, Phòng Trinh sát, Phòng Trinh sát địch hậu; ở Liên khu có Phòng Bảo vệ chính trị; ở tỉnh có Ban Bảo vệ chính trị. Cuối năm 1954, Bộ Công an ra Chỉ thị số 373/CT-CA quy định bổ sung nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức ở các vụ, cục thuộc Bộ. Vụ Bảo vệ chính trị gồm 5 đầu mối: Phòng Trinh sát địch hậu đổi thành Phòng Phái khiển; Phòng Trinh sát chia thành 03 phòng (Phòng Trinh sát ngoại quốc, Phòng Trinh sát nội địa, Phòng Trinh sát ngoại tuyến) và Phòng Bảo vệ cơ quan nội chính văn xã.

Dù mô hình tổ chức giai đoạn này có sự điều chỉnh, song phát huy thắng lợi từ chặng đường đầu tiên, trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, lực lượng An ninh nhân dân đã dựa vào nhân dân, sát cánh cùng lực lượng vũ trang, vừa triển khai thắng lợi các nhiệm vụ đấu tranh chống phản cách mạng, vừa vũ trang chiến đấu, góp phần cùng quân và dân ta đánh lùi từng bước, đánh đổ từng bộ phận kẻ thù để đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Trinh sát hoạt động ở vùng địch kiểm soát đã xây dựng được hàng chục ngàn cơ sở bí mật trong đó có hàng trăm cơ sở thâm nhập vào các cơ quan đầu não của địch ở trung ương cũng như cơ sở, thu được nhiều tin tình báo có giá trị. Trinh sát vũ trang phối hợp với lực lượng cách mạng tại chỗ, liên tục tiến hành các chiến dịch phá tề, trừ gian, phá chính quyền cơ sở của địch. Hệ thống chính quyền cơ sở của địch, nhất là ở vùng nông thôn bị phá vỡ từng mảng hoặc trở thành chính quyền “hai mang”; hàng trăm đối tượng cầm đầu gian ác như Trương Đình Chi - Chủ tịch “Hội đồng an dân Bắc Việt”, “Nguyễn Văn Sâm” - Chủ tịch mặt trận “Quốc gia liên hiệp” tại Nam Kỳ… bị tiêu diệt ngay tại trụ sở làm việc và trên đường phố là những chiến công gây tiếng vang lớn, đẩy bọn tay sai vào tình thế hoang mang.
Chiến công trên lĩnh vực này vừa khích lệ tinh thần cách mạng của quần chúng nhân dân, vừa là đòn cảnh cáo làm cho kẻ thù hoang mang, dao động. Những tấm gương cán bộ, chiến sĩ lực lượng An ninh hy sinh anh dũng, như Võ Thị Sáu, Lê Bình, Tôn Thất Cảnh, Bùi Thị Cúc, Trần Quý Lý… đã nêu cao chí khí cách mạng, kiên cường, dũng cảm và mưu trí, ngời sáng cho các thế hệ chiến sĩ An ninh nhân dân trong suốt những chặng đường chiến đấu trưởng thành 80 năm qua.
Tại các vùng hậu phương, căn cứ của ta, lực lượng An ninh nhân dân là nòng cốt tổ chức và chỉ đạo các phong trào “Ngũ gia liên bảo”, “Thập gia liên bảo”, “Bảo mật phòng gian” nhằm củng cố vững chắc chính quyền, xây dựng hậu phương vững mạnh để cung cấp nhân lực, vật lực cho kháng chiến. Thông qua phong trào quần chúng kết hợp với các biện pháp nghiệp vụ, lực lượng An ninh nhân dân cùng các lực lượng khác đã làm tốt công tác bảo vệ các chiến dịch, nhất là chiến dịch Biên giới, bảo vệ Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng (tháng 02/1951), bảo vệ nội bộ các cơ quan, đơn vị, bảo vệ xóm làng, tạo thế trận thiên la, địa võng bịt tai che mắt kẻ thù. Trinh sát bảo vệ chính trị ở các tỉnh chú trọng công tác bóc gỡ các đầu mối nội gián, gián điệp cài cắm, gián điệp trá hàng, gián điệp đôi, gián điệp đội lốt là con buôn, cũng như trừng trị những tên tay sai chỉ điểm. Do tiến hành đồng bộ các mặt công tác lại được nhân dân hết lòng ủng hộ nên lực lượng An ninh đã khám phá hàng chục vụ nội gián, hàng trăm ổ nhóm gián điệp, trấn áp các tổ chức phản động , đập tan âm mưu cài cắm mạng lưới gián điệp chỉ điểm của Pháp vào hậu phương ta.
Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, lực lượng An ninh nhân dân cùng các lực lượng khác đã đập tan âm mưu, hoạt động của bọn tình báo gián điệp và phản động tay sai, góp phần bảo vệ bí mật chiến dịch đến giờ phút nổ súng.
Trên khắp các chiến trường, lực lượng An ninh nhân dân phối hợp chặt chẽ với Quân đội nhân dân, cùng với kết quả của phong trào quần chúng “Phòng gian bảo mật” và triển khai nhuần nhuyễn các biện pháp nghiệp vụ, đã khám phá thành công các vụ án gián điệp, bắt gọn nhiều toán biệt kích của địch; trấn áp nhiều tổ chức phản động, làm tan rã nhiều tổ chức phỉ ở vùng núi Tây Bắc, Đông Bắc như: chiến dịch tiễu phỉ ở Thuận Châu của Công an khu Tây Bắc và Công an tỉnh Lai Châu…
Ngày 06/12/1953, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Lực lượng An ninh tham gia bảo vệ các cuộc hành quân, trú quân của bộ đội, dân công, bảo vệ kho tàng, bảo vệ lực lượng vũ trang. Cùng với công tác bảo vệ, lực lượng An ninh nhân dân ở nhiều nơi đã bắt hầu hết các toán gián điệp biệt kích do địch tung xuống để điều tra phá hoại kho tàng, cầu cống, nơi xung yếu trên các tuyến đường giao thông quan trọng từ Thanh Hóa, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hòa Bình lên Điện Biên Phủ.
Đặc biệt, lực lượng phản gián đã phát hiện và lập chuyên án (bí số TN25) đấu tranh với toán gián điệp Pháp ở Thái Nguyên do tên Bôca điều khiển. Cán bộ An ninh đã thuyết phục, cảm hóa các đối tượng gián điệp hoạt động cho ta, cung cấp những tin giả để đánh lạc hướng địch, góp phần bảo đảm an toàn kế hoạch cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Gần sáu năm đấu mưu, lực lượng An ninh không những phá tan âm mưu của tổ chức gián điệp biệt kích hỗn hợp nhảy dù của Pháp (GCMA) đưa điệp viên thâm nhập vào “thủ đô kháng chiến”, mà còn thông qua điệp viên của chúng, điều khiển cơ quan GCMA bộc lộ nhiều đầu mối gián điệp cài cắm để bóc gỡ; ta còn cung cấp tin giả cho cơ quan gián điệp Pháp, đẩy lùi kế hoạch đánh chiếm Nà Sản và một số địa bàn quan trọng ở hậu phương ta của lực lượng vũ trang địch.
Những thắng lợi trên trận tuyến đấu tranh bảo vệ an ninh của lực lượng An ninh có ý nghĩa quan trọng, không chỉ phá vỡ thế liên minh giữa giặc ngoại xâm với thế lực nội gián, mà còn hỗ trợ đắc lực cho lực lượng vũ trang đánh bại các chiến dịch quân sự của địch, góp phần quan trọng vào chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn.
Ngày 21/7/1954, Hiệp định Giơnevơ về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết, cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn mới.
(Còn tiếp...)
Thực hiện: Quang Hùng