logo

eMagazine

Bài 2: Lực lượng An ninh nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Bài 2: Lực lượng An ninh nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã đưa cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới với những yêu cầu mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam nhằm mục tiêu chung là hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước, thực hiện thống nhất nước nhà.

Trước tình hình, nhiệm vụ, yêu cầu mới của cách mạng, mặt trận đấu tranh chống phản cách mạng vẫn luôn nóng bỏng, phức tạp vì đối tượng đấu tranh của ta là một nước đế quốc có tiềm lực mạnh, có nền khoa học vượt trội, âm mưu thâm độc, thủ đoạn tinh vi, được vũ trang hùng hậu…

Để đánh thắng kẻ thù, lực lượng An ninh nhân dân đã triển khai quyết liệt công tác nắm tình hình, xác định đường lối, phương châm, nguyên tắc, biện pháp đấu tranh và tổ chức lực lượng tham gia đấu tranh chống phản cách mạng. Dưới sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng, ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, lực lượng An ninh nhân dân ở hai miền Nam, Bắc đã chủ động triển khai thắng lợi những công tác vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính chiến lược.

Ở miền Bắc, sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, mặc dù quân đội Pháp phải rút về nước song vẫn nuôi dã tâm quay trở lại xâm lược nước ta. Thực hiện âm mưu đó, Pháp ráo riết cài cắm điệp viên, chôn giấu vũ khí và phương tiện hoạt động tại các địa bàn chúng còn kiểm soát, đặc biệt là những địa bàn quy định thời gian chuyển quân tập kết.

Tại các tỉnh vùng núi, Pháp cài cắm hàng ngàn tên gián điệp biệt kích hỗn hợp nhảy dù (GCMA) nhằm xây dựng các “khu an toàn” và làm lực lượng nòng cốt cho các tổ chức phỉ. Bên cạnh thực dân Pháp, đế quốc Mỹ ráo riết triển khai âm mưu thế chân Pháp bằng việc mua chuộc bọn phản động lợi dụng tôn giáo, tiến hành kế hoạch kích động, dụ dỗ, cưỡng ép số nhân viên ngụy quân, ngụy quyền của chế độ cũ và đồng bào Công giáo di cư vào Nam nhằm gây rối an ninh, trật tự miền Bắc; tuyển chọn bọn Đại Việt đưa đi đào tạo gián điệp và đánh trở lại trong thời kỳ 300 ngày.

Dưới sức ép của Mỹ, Pháp phải chuyển giao nhiều đối tượng cầm đầu các đảng phái, bọn 2B cho tình báo Mỹ sử dụng. Song song với hoạt động của Pháp và Mỹ, số ngụy quân, ngụy quyền và các đảng phái phản động do quyền lợi của chúng từng gắn chặt với ngoại xâm, nay bị tước bỏ nên chúng thâm thù với cách mạng, tìm mọi cách co cụm thành những tổ chức phản động, manh động chống phá nhằm phục hồi chế độ cũ.

Căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ của công tác an ninh trong bối cảnh lịch sử mới, Vụ Bảo vệ chính trị đã bố trí lại lực lượng theo hướng chuyên sâu và theo hệ loại đối tượng. Trên cơ sở đó, hệ thống An ninh Công an các tỉnh, thành phố cũng được củng cố cơ bản.

Tháng 5/1958, Bộ Công an trình Chính phủ đề án về tổ chức mới, theo đó, tách Phòng Bảo vệ cơ quan nội chính văn xã thành lập Cục Bảo vệ cơ quan và văn hóa; tách Phòng Trinh sát ngoại tuyến trực thuộc Bộ trưởng; thành lập Cục Bảo vệ kinh tế. Ngày 22/4/1960, Bộ trưởng Bộ Công an quyết định thành lập Cục Kỹ thuật nghiệp vụ. Ngày 29/9/1961, Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 132/CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Công an.

Theo đó, hệ thống tổ chức lực lượng An ninh nhân dân gồm các đơn vị: Cục Bảo vệ chính trị 1 (Phái khiển); Cục Bảo vệ chính trị 2 (Chống gián điệp và phản động); Cục Bảo vệ chính trị 3 (nghiệp vụ và kỹ thuật); Cục Bảo vệ cơ quan và văn hóa; Cục Bảo vệ kinh tế 1; Cục Bảo vệ kinh tế 2; Cục Ngoại tuyến và các cục Trinh sát hợp thành hệ Bảo vệ Chính trị.

Ngày 22/2/1973, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 32/CP sửa đổi tổ chức bộ máy của Bộ Công an. Theo đó, hệ Bảo vệ Chính trị (An ninh) có: Cục Ngoại tuyến; Cục Bảo vệ cơ quan và văn hóa; Cục Chống gián điệp (Bảo vệ chính trị 1); Cục Chống phản động (Bảo vệ chính trị 2); Cục Bảo vệ kinh tế 1; Cục Bảo vệ kinh tế 2; Cục Bảo vệ kinh tế 3; Cục Kỹ thuật 1; Cục Kỹ thuật 2; Cục Kỹ thuật 3.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng An ninh phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang và được sự cộng tác chặt chẽ của chính quyền cơ sở đã đồng loạt triển khai có hiệu quả nhiều công tác cơ bản vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính chiến lược.

Hơn 400 cán bộ, chiến sĩ được cử tham gia các đoàn công tác chống cưỡng ép di cư theo Chỉ thị số 91-CT/TW của Trung ương, hoạt động chủ yếu tại các địa bàn trọng điểm là Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình. Lực lượng An ninh vừa tham gia vận động quần chúng rời bỏ nơi tập trung trở về quê quán, vừa tổ chức khám phá các ổ nhóm phản động làm tay sai cho Mỹ, Diệm, dụ dỗ cưỡng bức đồng bào di cư. Đã giải tán được khu tập trung gồm hơn 5.000 người ở Thái Bình cùng nhiều khu tập trung nhỏ khác; trấn áp cuộc bạo loạn ở Ba Làng, tỉnh Thanh Hóa, Trù Sơn ở Nghệ An; khám phá đường dây làm giả giấy tờ để đưa sinh viên trốn đi miền Nam ở nhà thờ Nam Đồng, Hà Nội… Hàng trăm tên phản động khoác áo tu sĩ ở các khu vực hoành hành dữ dội đã bị bắt hoặc bị cảnh cáo làm cho bọn a dua, côn đồ, bọn tay sai không dám ngang nhiên chống phá. Hoạt động có hiệu quả của lực lượng An ninh đã góp phần làm thất bại âm mưu đưa hơn 2 triệu đồng bào ta vào Nam để gây khó khăn cho miền Bắc và xây dựng chính quyền Công giáo ở miền Nam của Mỹ.

Ngay trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, lực lượng An ninh đã phát hiện và nắm được âm mưu của cơ quan GCMA tung gián điệp vào các tỉnh vùng núi phía Bắc để kích động đồng bào dân tộc nổi phỉ, xây dựng các khu an toàn chờ cơ hội quay trở lại. Do triển khai tốt công tác nắm tình hình và phối hợp đồng bộ các lực lượng nên chỉ trong sáu năm ta đã tiến hành trấn áp dứt điểm các hang ổ phỉ ở các tỉnh phía Bắc Trung Bộ và phía Bắc.

Chỉ tính từ tháng 7/1954 đến tháng 4/1956, tại vùng núi phía đông sông Thao ta đã bắt và diệt 483 tên GCMA, gọi hàng 4.336 tên phỉ, thu 3.796 khẩu súng. Từ năm 1955 đến năm 1959, lực lượng An ninh đã phối hợp chặt chẽ với Quân đội nhân dân và chính quyền các địa phương lần lượt giải quyết dứt điểm nạn nổi phỉ ở các tỉnh vùng núi phía Tây Bắc, Đông Bắc.

Một số trinh sát được giao nhiệm vụ xâm nhập vào bộ chỉ huy đầu não của tổ chức phỉ, đã mưu trí điều được hàng chục tên tướng phỉ ra ngoài để lực lượng đón lõng bắt gọn, góp phần nhanh chóng làm tan rã tổ chức phỉ, giảm thiểu thiệt hại cho lực lượng ta. Năm 1960, hang ổ phỉ cuối cùng tại Đồng Văn bị xóa sổ, tình hình an ninh ở các tỉnh vùng núi được ổn định. Giải quyết dứt điểm nạn nổi phỉ không chỉ bảo đảm cho đồng bào các dân tộc phát triển sản xuất, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, mà còn tạo ra địa bàn an ninh thuận lợi để lực lượng An ninh xây dựng thế trận, đón đánh bọn gián điệp Mỹ - ngụy xâm nhập sau này.

Nhằm chủ động bóc gỡ mạng lưới gián điệp do Pháp, Mỹ cài lại, Vụ Bảo vệ chính trị chỉ đạo Công an các tỉnh, đặc biệt là các tỉnh nằm trong khu vực chuyển quân tập kết tăng cường công tác trinh sát, công tác khai thác hồ sơ để nắm vững vụ việc và con người có nghi vấn chính trị. Qua đó phát hiện nhiều đối tượng là ngụy quân, ngụy quyền, đảng viên phản động nhận làm việc cho các cơ quan gián điệp Pháp và Mỹ. Kết hợp với việc tiếp tục sử dụng 3 nữ điệp viên trong Chuyên án TN25, lực lượng An ninh nắm được một số mạng lưới cài cắm của chúng.

Từ năm 1954 đến năm 1965, đã tiến hành đấu tranh 15 chuyên án gián điệp, bắt gần 100 tên, khai quật hàng chục kho vũ khí bí mật trong nhà dân, trong nghĩa địa, làm phương tiện hoạt động lâu dài của đội quân ngầm, có kho vũ khí đủ trang bị cho cả 01 trung đoàn. Điển hình là Chuyên án C30, được xác định là một chiến dịch phản gián hoàn hảo của lực lượng An ninh Việt Nam trong trận đầu đọ sức với cơ quan tình báo Mỹ. Quá trình đấu tranh, ta đã sử dụng 11 cơ sở và trinh sát xã hội hóa, hoạt động trên địa bàn 7 tỉnh, nắm chắc di biến động của từng điệp viên, nắm chắc mạng lưới cơ sở ngầm chúng đã móc nối, triển khai thành công nhiều kế hoạch, các biện pháp nghiệp vụ đồng thời và đồng bộ ở các tỉnh từ Hà Nội đến Vĩnh Linh.

Do đó đã kịp thời vô hiệu hóa các kế hoạch đặt chất nổ, phá hoại các công trình kinh tế, quốc phòng quan trọng của tổ chức gián điệp này. Cơ sở và trinh sát của ta còn thực hiện thành công nhiều lần vượt tuyến vào Nam, xâm nhập vào cơ quan chỉ đạo cao nhất của tình báo Mỹ, nắm được âm mưu của chúng ngay tại trung tâm chỉ huy. Nhờ đó, ta đồng loạt bắt nhanh, gọn 15 đối tượng chính ở nhiều tỉnh, bóc gỡ hàng chục cơ sở ngầm, khai quật 8 kho vũ khí bí mật nhưng trung tâm địch vẫn không hay biết.

Đối với Chuyên án GM65, lực lượng An ninh các tỉnh Hải Phòng, Hà Đông, Sơn Tây, Phú Thọ và Hà Nội đã phối hợp chặt chẽ, làm rõ sự câu móc giữa gián điệp với phản động, phá tan âm mưu liên kết của hai loại đối tượng này hòng xây dựng lực lượng ngầm chờ quân Mỹ bắc tiến để nổi dậy làm hậu thuẫn.

Chiến công bóc gỡ mạng lưới gián điệp cài cắm không chỉ có ý nghĩa đánh bại âm mưu đánh ta sau chiến tranh của cơ quan tình báo Mỹ, mà còn góp phần quan trọng vào nhiệm vụ củng cố an ninh chính trị ở miền Bắc ngày càng vững chắc, xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam.

Dự đoán được âm mưu mở rộng chiến tranh ra miền Bắc của đế quốc Mỹ, lực lượng An ninh chủ động tham mưu với Đảng và Chính phủ triển khai nhiều biện pháp đấu tranh mang tính chủ động và chiến lược. Một trong những công tác đó là lực lượng An ninh phối hợp với các cấp chính quyền, các ngành tiến hành công tác “khoanh vùng trấn phản”, công tác cải tạo tại chỗ và tập trung cải tạo, nhằm quét vét hết mạng lưới tay sai cũng như cơ sở xã hội chúng có thể lợi dụng.

Từ năm 1961 đến năm 1973, đã lần lượt đưa hàng ngàn đối tượng nguy hiểm cho an ninh xã hội đi tập trung cải tạo; tổ chức cải tạo tại chỗ đối với hàng ngàn đối tượng ít nguy hiểm hơn. Do đó, đã loại trừ các cuộc manh động gây bạo loạn, góp phần củng cố vững chắc các vùng xung yếu, địa bàn trọng điểm cũng như củng cố một bước hệ thống chính quyền cơ sở. Các tổ chức phản động lợi dụng tôn giáo, dân tộc, trong số ngụy quân, ngụy quyền manh động chống chính quyền cũng lần lượt bị trấn áp: dập tắt vụ xưng vua, đón vua ở Sìn Hồ; trấn áp tổ chức phản động “Nhất tân dân tộc” ở Tuyên Quang, “Mặt trận thống nhất Tây Bắc” ở Văn Chấn; vụ Dào San, vụ Hồ Thầu ở Phong Thổ (Lai Châu), đặc biệt là vụ bạo loạn ở Đồng Văn (Hà Giang) cuối năm 1959, đầu năm 1960; phối hợp với bạn Lào truy quét phỉ Vàng Pao hoạt động ở vùng biên giới Việt - Lào; trừng trị linh mục phản động Lương Huy Hân ở Nam Định…

Với tinh thần kiên quyết và bền bỉ, lực lượng An ninh đã góp phần xóa bỏ cơ sở xã hội cũng như những điều kiện kẻ thù có thể lợi dụng trong âm mưu tung gián điệp, gián điệp biệt kích, tiến hành cuộc chiến tranh bí mật để mở rộng chiến tranh xâm lược ra miền Bắc.

Từ năm 1961, cơ quan tình báo Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn đã ráo riết phát động cuộc “Chiến tranh gián điệp biệt kích” với phương châm “đánh cộng sản trong lòng cộng sản” nhằm làm cho miền Bắc suy yếu để dễ dàng thực hiện âm mưu xâm lược toàn cõi Đông Dương. Do dự đoán được âm mưu địch và chủ động chuẩn bị địa bàn đón đợi nên ngay từ toán đầu tiên ta đã bắt gọn và tiến hành “trò chơi nghiệp vụ”, đấu trí, điều khiển hoạt động của trung tâm địch.

Hơn 10 năm đấu tranh bí mật với các cơ quan tình báo Mỹ, ngụy, lực lượng An ninh luôn quán triệt phương châm “quét sạch nhà để đón khách không mời mà đến”, “giữ bên trong là chính, giữ bên dưới là chính” bằng việc xây dựng thế trận an ninh toàn dân. Kết hợp nhịp nhàng giữa đấu tranh chuyên án với việc tổ chức toàn dân phòng, chống biệt kích, từ đó không những làm thất bại âm mưu địch mà còn tương kế tựu kế dụ chúng vào bẫy giương sẵn. Toán biệt kích đầu tiên nhảy dù xuống châu Phù Yên, tỉnh Sơn La đêm 27/5/1961 bị lực lượng An ninh bắt gọn và lập Chuyên án có bí số PY27. Đây là chuyên án mở đầu và là chuyên án tạo nguồn cho cuộc đấu trí, đấu mưu của lực lượng An ninh hơn 10 năm. Qua đấu tranh, lực lượng An ninh biết trước được số biệt kích đang huấn luyện tại các trung tâm của địch; biết được các toán, thời gian, địa điểm, số lượng, tên, quê quán của số biệt kích sẽ tung ra miền Bắc. Đồng thời cung cấp cho địch những tin giả, đẩy chúng vào tình trạng bị điều khiển hoạt động theo chủ ý của cơ quan An ninh.

Từ năm 1961 đến năm 1973, lực lượng An ninh tổ chức đấu tranh 27 chuyên án theo chiến thuật “trò chơi nghiệp vụ”, góp phần bắt và diệt hơn 103 toán gián điệp biệt kích gồm 885 tên xâm nhập bằng đường không; thu hàng trăm tấn vũ khí hiện đại, thuốc nổ, máy thông tin, phương tiện chiến tranh tối tân. Song song với đón bắt, truy lùng biệt kích xâm nhập bằng đường không, lực lượng An ninh xây dựng phòng tuyến an ninh vững chắc đối với các tỉnh duyên hải và các tỉnh giáp biên giới với Lào thành thế trận an ninh toàn dân phòng, chống biệt hải, phòng, chống biệt kích xâm nhập qua biên giới.

Từ năm 1964 đến năm 1973, đã đánh đuổi 75 toán biệt hải xâm nhập, không để chúng phá hoại được bất kỳ công trình quốc phòng, giao thông nào; đánh đuổi 135 toán xâm nhập qua biên giới, đập tan âm mưu móc nối với người Mông xây dựng lực lượng ngầm trên tuyến biên giới Việt - Lào. Chiến công trong phòng, chống biệt kích khẳng định giá trị to lớn của phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc; khẳng định chiến thuật “dùng người của địch, phương tiện của địch để đánh lại địch” đã được nâng lên thành nghệ thuật.

Cùng với đánh bại cuộc chiến tranh gián điệp biệt kích, lực lượng An ninh khám phá hàng chục chuyên án gián điệp Mỹ và đồng minh1 ; đánh bại hoàn toàn chiến thuật đánh gián điệp con thoi, vượt biên, vượt tuyến và sử dụng điệp viên là người của nước thứ ba cài cắm vào nội bộ ta. Trong đó đã phát hiện, vô hiệu hóa hàng chục đầu mối đánh vào nội bộ ta qua con đường Việt kiều hồi hương về xây dựng Tổ quốc hoặc học sinh và cán bộ miền Nam ra Bắc học tập, công tác, một số vụ án điệp viên của đối phương đã thâm nhập vào các cơ quan Đảng và chính quyền.

Cũng trong giai đoạn này, Đảng và Nhà nước mở rộng hợp tác quốc tế, các đoàn lâm thời, thường trú của các nước xã hội chủ nghĩa, trung lập, kể cả tổ chức phi chính phủ của các nước tư bản vào nước ta ngày một tăng. Nhân viên của một số nước đã bị Mỹ lợi dụng để tổ chức hoạt động gián điệp thông qua phương thức lâm thời và thường trú. Lực lượng An ninh đã tổ chức quần chúng, xây dựng thế trận bao vây, giám sát mọi hoạt động của địch. Qua đó, đã phát hiện hàng chục đầu mối gián điệp hoạt động theo phương thức lâm thời, thường trú, lần lượt lập án đấu tranh, vô hiệu hóa âm mưu địch nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

Đặc biệt, từ năm 1961 đến năm 1973, lực lượng An ninh tiến hành 3 kế hoạch phản gián có bí số B12, M1 và M2 để đấu tranh với cơ quan tình báo đối phương. Với sự phối hợp hiệp đồng chặt chẽ, đồng bộ giữa các lực lượng Trinh sát, 3 kế hoạch được triển khai có hiệu quả, bảo đảm tuyệt đối bí mật, thu hàng ngàn tin tình báo rất có giá trị, có tính thời sự, kịp thời báo cáo Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những tài liệu thu được đã góp phần quan trọng để Đảng ta hoạch định chiến lược, sách lược trong đối ngoại cũng như lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi.

Đặc biệt, kế hoạch khống chế đường giao thông và khu vực hoạt động của tổ chức gián điệp đế quốc “Kế hoạch M” được triển khai gồm các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đầu tiên của nhiều đơn vị An ninh (được đặt tên là 19/5 vinh dự mang ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu). Trong suốt 14 năm thực hiện “Kế hoạch M” từ năm 1963, lực lượng trinh sát kỹ thuật đã vượt qua nhiều khó khăn, tận tụy, mưu trí, sáng tạo, xâm nhập hàng trăm đợt, thức trắng 500 đêm, thu thập, xử lý hàng vạn trang tài liệu vô cùng quý giá phục vụ cho cuộc kháng chiến. “Kế hoạch M” là một chiến công xuất sắc của ngành Công an nói chung và lực lượng An ninh nhân dân nói riêng do được sử dụng tổng hợp sức mạnh của nhiều lực lượng nghiệp vụ trinh sát, sự mưu trí kết hợp tinh thần sáng tạo và sử dụng thành thạo phương tiện kỹ thuật.

Trên lĩnh vực bảo vệ Đảng, lực lượng An ninh phát hiện sớm, quản lý chặt hai loại đối tượng câu móc với một số cán bộ cao cấp nhằm điều chỉnh đường lối của Đảng ta để có lợi cho họ. Nhờ đó, Đảng đề ra đối sách vô hiệu hóa âm mưu của các đối tượng này. Năm 1969, được sự đồng ý của Bộ Chính trị, lực lượng An ninh bắt những đối tượng chính, trục xuất kẻ chỉ đạo có thân phận ngoại giao, làm thất bại hoàn toàn kế hoạch đấu tranh trên nghị trường.

Ở miền Nam, sau khi Hiệp định Giơnevơ ký kết, số cán bộ, chiến sĩ chưa bị lộ được lệnh tiếp tục ở lại hoạt động trong lòng địch. Thời gian này kẻ thù tiến hành những chính sách đàn áp dã man và truy bức tinh thần của nhân dân ta hòng tách cán bộ cách mạng ra khỏi quần chúng. Để duy trì hoạt động của các cơ quan, lực lượng An ninh tập trung tiến hành công tác xây dựng cơ sở và chắp nối liên lạc. Năm 1955, các Ban Địch tình của Đảng được thành lập. Hầu hết các chiến sĩ An ninh đang hoạt động bí mật được chuyển sang các Ban Địch tình, vừa làm công tác bảo vệ các đồng chí lãnh đạo, các cơ quan của Đảng, vừa tiến hành công tác nắm tình hình địch phục vụ yêu cầu chỉ đạo đấu tranh chính trị của các tổ chức cơ sở đảng.

Năm 1961, Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam được thành lập và năm 1962, An ninh Trung ương Cục ra quyết định thành lập “Tiểu ban Bảo vệ chính trị”. Sau Hội nghị An ninh toàn miền lần thứ nhất, ngày 21/3/1963, lực lượng “Bảo vệ chính trị” thuộc Ban An ninh các tỉnh lần lượt được thành lập với nhiệm vụ chủ yếu là “Thu thập tin tức âm mưu, hoạt động của địch để bảo vệ các tổ chức cơ sở đảng, bảo vệ đoàn thể cách mạng, bảo vệ quần chúng nhân dân; thâm nhập vào các cơ quan đầu não, tổ chức đánh địch trong lòng địch”.

Cùng với quá trình phát triển lực lượng tại chỗ, lực lượng Bảo vệ chính trị còn được An ninh miền Bắc chi viện kịp thời hàng ngàn cán bộ dày dạn kinh nghiệm, các loại phương tiện, tài liệu nghiệp vụ, giáo trình giảng dạy. Có sự chi viện toàn diện của An ninh miền Bắc, lực lượng Bảo vệ chính trị toàn miền Nam đã triển khai các mặt công tác kịp thời và có hiệu quả: Nắm được kế hoạch nhiều cuộc hành quân của địch để thông báo tới các cơ quan kháng chiến chủ động sơ tán; khám phá nhiều đầu mối, kế hoạch cài cắm nội gián của Mỹ, ngụy vào các cơ quan, đoàn thể kháng chiến; diệt ác trừ gian, bảo đảm an toàn và thông suốt cho các tuyến giao thông, kể cả những thời điểm khó khăn nhất. Lực lượng Bảo vệ chính trị toàn miền đã xây dựng được hàng ngàn cơ sở trong các 12 cơ quan tình báo, cảnh sát; có nhiều cơ sở thâm nhập vào những vị trí quan trọng, thiết yếu trong bộ máy chính quyền ngụy. Tin tức thu được đã góp phần quan trọng giúp Trung ương Cục chỉ đạo cuộc kháng chiến, nhất là giúp các cơ quan ứng phó kịp thời với hoạt động của địch.

Từ năm 1961 đến năm 1965, lực lượng An ninh miền Nam đã khám phá 458 vụ nội gián; phát động 19.463.606 lượt quần chúng đứng lên đấu tranh, phá 4.248 ấp chiến lược, 10 khu trù mật ở 87 xã, giải phóng hàng chục vạn dân.

Lực lượng Bảo vệ chính trị ở các vùng giải phóng xây dựng và củng cố vững chắc phong trào quần chúng bảo vệ an ninh, trật tự; phối hợp với các cơ quan, đoàn thể trừ gian, đánh đuổi biệt kích, bảo vệ xóm làng làm căn cứ địa và địa bàn an toàn cho lực lượng vũ trang ta hoạt động. Tiểu ban Bảo vệ chính trị xây dựng kế hoạch và chỉ đạo lực lượng Bảo vệ chính trị toàn miền, lần lượt làm thất bại 2 kế hoạch tình báo chiến lược của Mỹ là: “Tình báo đại chúng” từ 1964 đến năm 1968; “Kế hoạch Phượng Hoàng” từ năm 1968 đến năm 1975. An ninh miền Nam không những đã tham mưu với Đảng từng bước đánh bại 2 kế hoạch trên, mà còn “tương kế tựu kế” đưa cơ sở ta vào hàng ngũ địch.

Từ năm 1965, Tiểu ban Bảo vệ chính trị mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ An ninh toàn miền, góp phần bổ sung lực lượng tại chỗ, có trình độ nghiệp vụ đủ sức đáp ứng yêu cầu công tác và chiến đấu. Hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ được đào tạo ngắn hạn và dài hạn, khi trở về địa phương đều là đội ngũ cốt cán, phát huy tác dụng tốt.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, lực lượng Bảo vệ chính trị nhanh chóng chiếm các cơ quan tình báo, cảnh sát của địch; thu hồi hầu hết hồ sơ tài liệu của chúng phục vụ công tác đánh địch lâu dài. Đã phối hợp với các lực lượng vũ trang tổ chức cho ngụy quân, ngụy quyền trình diện; phân loại đối tượng, tổ chức cho họ học tập cải tạo theo quy định của Ủy ban Quân quản.

Lực lượng An ninh các tỉnh phối hợp chặt chẽ với Quân đội nhân dân, tiến hành truy bắt hơn 50.000 đối tượng trốn trình diện, trấn áp hơn 500 toán vũ trang co cụm trong rừng, trấn áp một số tổ chức phản động là tàn dư của ngụy quân, ngụy quyền manh động bạo loạn.

Mặc dù phải tập trung lực lượng để giữ gìn an ninh, trật tự, bảo đảm cho đồng bào ổn định cuộc sống trong thời gian đầu mới giải phóng, nhưng lực lượng An ninh các tỉnh phía Nam đã hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ cơ bản, cấp bách, phục vụ cho công tác đánh địch trước mắt và lâu dài.

Trải qua 21 năm vừa kháng chiến chống đế quốc Mỹ, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng Công an nhân dân trong đó có lực lượng An ninh nhân dân đã đồng hành cùng dân tộc tiến hành cuộc đấu tranh khẩn trương, quyết liệt, phức tạp, gay go, đánh bại cuộc chiến tranh gián điệp, chiến tranh tâm lý của đế quốc Mỹ và tay sai; bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân; trấn áp các hoạt động phá hoại, gây rối của bọn phản cách mạng và tội phạm khác; giữ vững an ninh, chính trị và trật tự xã hội ở miền Bắc trong điều kiện có chiến tranh phá hoại vô cùng ác liệt.

Ở miền Nam, lực lượng An ninh nhân dân đã kiên trì bám đất, bám dân, diệt ác, phá kìm, đấu tranh kiên cường chống lại cuộc chiến tranh bình định, chiến tranh tâm lý, các hoạt động chiêu hồi, tình báo của địch, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

(Còn tiếp ...)

Thực hiện: Quang Hùng