logo

eMagazine

Bài 3: Hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng
Bài 3: Hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng

Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã xác lập tầm nhìn chiến lược của đất nước với mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Để hiện thực hóa 2 mục tiêu chiến lược đề ra, nền kinh tế phải chuyển sang trạng thái bứt tốc mạnh mẽ, tăng trưởng 2 con số liên tục trong cả giai đoạn 2026-2030 và những năm tiếp theo. Đây không chỉ là mục tiêu kinh tế mà đã trở thành mệnh lệnh chính trị gắn với khát vọng phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Bước vào năm đầu tiên của nhiệm kỳ, cả nước đang dồn sức thực hiện mục tiêu tăng trưởng với yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững.

6 tháng đầu năm 2026 tăng trưởng kinh tế đạt 8,18%, trên cơ sở dữ liệu này, kịch bản được Cục Thống Kê, Bộ Tài chính đưa ra, rằng muốn đến đích tăng trưởng 2 con số vào cuối năm thì quý III cần hướng tới mức tăng 11,16% để lũy kế 9 tháng tăng 9,19%; Quý IV cần đạt mức tăng 12,09%.

Như vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng 10% cả năm 2026, nhiệm vụ của 6 tháng cuối năm sẽ rất nặng với tốc độ tăng trưởng bình quân cần đạt tới 11,7%.

Trong khi đó kinh tế Việt Nam bước vào 6 tháng cuối năm 2026 trong bối cảnh cơ hội và sức ép đan xen. Tình hình kinh tế thế giới phục hồi chưa đồng đều, rủi ro địa chính trị, biến động giá năng lượng, chi phí vận tải, xu hướng bảo hộ thương mại và chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn tiếp tục tạo áp lực đối với xuất khẩu, tỷ giá và lạm phát.

Bài 3: Hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng

Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Hệ thống Tài Khoản quốc gia, Cục Thống kê đã phân tích áp lực trong nửa cuối năm đến từ cả các yếu tố khách quan lẫn nội tại của nền kinh tế. Từ bên ngoài, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng và tổng cầu suy yếu tại các thị trường xuất khẩu chủ lực, có nguy cơ làm chậm nhịp xuất khẩu so với nửa đầu năm. Chi phí logistics tăng và mặt bằng lãi suất quốc tế neo cao tiếp tục gây sức ép lên tỷ giá và lạm phát nhập khẩu.

Ở trong nước, tiến độ giải ngân đầu tư công dù có cải thiện nhưng vẫn gặp nút thắt về giải phóng mặt bằng và nguồn cung vật liệu xây dựng tại một số địa phương. Sức chống chịu của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn hạn chế do khó khăn về dòng tiền và khả năng hấp thụ vốn tín dụng chưa thực sự phục hồi mạnh mẽ. Ngoài ra, thị trường bất động sản phục hồi chưa đồng đều và áp lực điều hành giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý cũng là những bài toán lớn đối với cân đối vĩ mô.

Bài 3: Hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng

TS Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Nghiên cứu môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế-tài chính (Bộ Tài chính) khẳng định, với mục tiêu tăng trưởng 2 con số thì vai trò của doanh nghiệp luôn luôn là quan trọng.

Theo bà Thảo, doanh nghiệp không chỉ cần chính sách ưu đãi mà còn cần môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch, thông thoáng, giảm gánh nặng thủ tục, chi phí tuân thủ thấp.Cùng với đó, tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý, khuyến khích doanh nghiệp nghiên cứu, phát triển khoa học-công nghệ và tạo động lực đổi mới sáng tạo; từ đó tạo nền tảng để doanh nghiệp đóng góp cho tăng trưởng bứt phá.

Đồng quan điểm, Cục trưởng Phát triển doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) Bùi Anh Tuấn cũng nhận định, mục tiêu cao nhất là hướng tới xây dựng môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, ổn định, an toàn, bình đẳng, dễ thực thi, chi phí thấp, đồng thời bảo vệ hữu hiệu quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh hợp pháp, quyền bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trong tiếp cận các nguồn lực và cơ hội kinh doanh.

Bài 3: Hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng

Bà Nguyễn Thị Nga, Quyền Chủ tịch Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam, Chủ tịch Tập đoàn BRG, Phó Chủ tịch Thường trực Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank) cho rằng cần tiếp tục nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tài khóa, tiền tệ và thúc đẩy phát triển tín dụng xanh.

Theo bà Nguyễn Thị Nga, thời gian qua, Chính phủ đã điều hành chính sách tài khóa và tiền tệ linh hoạt, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng. Tuy nhiên, để tạo thêm dư địa phát triển bền vững, tín dụng xanh cần trở thành một động lực quan trọng hơn trong nền kinh tế.

Bà Nguyễn Thị Nga đề xuất Chính phủ hoàn thiện cơ chế hỗ trợ lãi suất 2%/năm từ ngân sách nhà nước đối với doanh nghiệp và hộ kinh doanh đầu tư các dự án xanh, kinh tế tuần hoàn; đồng thời quy định rõ đối tượng, tiêu chí, nguồn kinh phí, thời hạn hỗ trợ và cơ chế giám sát nhằm bảo đảm minh bạch, hiệu quả và hạn chế trục lợi chính sách.

Bên cạnh đó, đại diện BRG kiến nghị sớm tổ chức triển khai thống nhất Danh mục phân loại tín dụng xanh quốc gia; ban hành hướng dẫn cụ thể về hồ sơ, quy trình xác nhận và cơ chế cập nhật danh mục.

Cùng với đó là tăng cường phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước, các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và tổ chức tín dụng trong tuyên truyền, đào tạo, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng phương án chuyển đổi xanh, ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Không chỉ tập trung vào nguồn vốn, bà Nguyễn Thị Nga cho rằng, cần phát triển mạnh thị trường bán lẻ trong nước thông qua nâng cao năng lực kết nối giữa doanh nghiệp sản xuất với chuỗi cung ứng và hệ thống phân phối hiện đại.

Bài 3: Hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng

Tại Thông báo số 394/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp với chủ đề "Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng" mới đây, Thủ tướng Chính phủ đề nghị các Bộ, ngành, địa phương hành động với tinh thần "khẩn trương - quyết liệt - hiệu quả - không né tránh - không đùn đẩy". 

Theo đó, Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính và các Bộ, ngành, địa phương liên quan tiếp tục phát triển lành mạnh, ổn định, bền vững thị trường vốn, thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Đề án cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam trong tháng 7 năm 2026. Thúc đẩy hoạt động của Trung tâm Tài chính quốc tế tại TPHCM và Đà Nẵng, tạo điều kiện để huy động vốn thông qua các sản phẩm, công cụ tài chính trên thị trường. Chủ động tuyên truyền, thông tin đến cộng đồng doanh nghiệp nội dung mới của Nghị định số 200/2026/NĐ-CP để thúc đẩy thị trường trái phiếu doanh nghiệp.

Bài 3: Hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng

Đồng thời, xử lý dứt điểm các dự án chậm triển khai, kéo dài theo đúng quy định của pháp luật, không để đất đai, tài sản và nguồn lực tiếp tục bị lãng phí, với yêu cầu là phải triển khai trên thực tế, xử lý dứt điểm và có kết quả cuối cùng. Kịp thời xử lý việc hoàn thuế, thanh quyết toán vốn đầu tư công và các nghĩa vụ thanh toán của Nhà nước theo quy định, không để doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn.

Kết luận Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026 của ngành Tài chính, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn yêu cầu toàn ngành bám sát các kết luận, chỉ đạo mới của Trung ương, Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Chính phủ để rà soát toàn diện các chương trình, kế hoạch công tác, kịp thời cập nhật vào kịch bản điều hành của ngành.

Theo Bộ trưởng, trong bối cảnh nền kinh tế đang bước vào giai đoạn tăng tốc để phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 2 con số, từng đơn vị trong ngành Tài chính phải chủ động hơn, quyết liệt hơn và nâng cao hơn nữa chất lượng tổ chức thực hiện.

Trước hết, Bộ trưởng yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, coi đây là giải pháp căn cơ nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và kiến tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, minh bạch. Việc rà soát, sửa đổi các luật về tài chính - ngân sách, đầu tư, quản lý tài sản công, thị trường vốn... được đặt trong yêu cầu chung là đáp ứng các chủ trương lớn của Đảng, đồng thời tạo động lực mới cho phát triển.

Bài 3: Hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng

Cùng với đó, ngành Tài chính phải điều hành chính sách tài khóa chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ để vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Bộ trưởng nhấn mạnh yêu cầu quản lý chặt chẽ thu, chi ngân sách nhà nước; tăng cường kỷ luật tài chính; đồng thời tiếp tục nghiên cứu, tham mưu các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí phù hợp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân phục hồi, mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng khác được Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh là đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Không chỉ dừng ở việc hoàn thành kế hoạch vốn được giao, ngành Tài chính phải chủ động phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế, thủ tục, bảo đảm dòng vốn đầu tư được đưa nhanh vào nền kinh tế, tạo hiệu ứng lan tỏa đối với tăng trưởng, việc làm và thu hút đầu tư xã hội.

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng đang diễn ra mạnh mẽ, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cũng yêu cầu toàn ngành Tài chính đẩy nhanh chuyển đổi số, xây dựng nền tài chính số hiện đại, khai thác hiệu quả dữ liệu phục vụ công tác quản lý và điều hành. Đây không chỉ là yêu cầu nâng cao hiệu quả quản trị ngành, mà còn góp phần giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Bên cạnh các giải pháp về chính sách, Bộ trưởng đặc biệt nhấn mạnh yếu tố con người và kỷ luật thực thi.

6 tháng đầu năm 2026 tăng trưởng kinh tế đạt 8,18%, trên cơ sở dữ liệu này, kịch bản được Cục Thống Kê, Bộ Tài chính đưa ra, rằng muốn đến đích tăng trưởng 2 con số vào cuối năm thì quý III cần hướng tới mức tăng 11,16% để lũy kế 9 tháng tăng 9,19%; Quý IV cần đạt mức tăng 12,09%.

THỰC HIỆN: THUÝ HẰNG