


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử thắng lợi đã đưa cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn mới với những thuận lợi và thách thức mới: Cả nước thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Tuy đất nước đã hòa bình nhưng nhiệm vụ bảo vệ an ninh lại đặt ra những yêu cầu mới, thách thức mới cam go, phức tạp. Mặc dù hệ thống chính quyền cơ sở được củng cố nhanh chóng, nhưng nhiều vấn đề bức xúc đã xuất hiện, cần được giải quyết. Sau ngày giải phóng, toàn miền Nam có hơn 1 triệu ngụy quân, ngụy quyền, hơn 2 triệu đảng viên thuộc các đảng phái chính trị phản động tan rã tại chỗ. Một số không nhỏ, có thâm thù với cách mạng, trốn trình diện, trốn cải tạo. Chúng thay đổi địa bàn sinh sống, che giấu lý lịch và trà trộn trong dân; một lực lượng không nhỏ trốn trong rừng, co cụm thành những ổ nhóm vũ trang manh động chống chính quyền. Mấy năm sau giải phóng, bọn tàn dư của chế độ cũ đã nhen nhóm tới 1.182 tổ chức phản động. Tại các tỉnh Tây Nguyên, số người chạy vào rừng theo FULRO ngày càng đông, với nhiều thành phần khác nhau. Lực lượng FULRO ở trong rừng cũng thành lập bộ khung chính quyền và có tới hàng ngàn tay súng. Chúng tập kích trên các tuyến đường, tấn công trụ sở cơ quan, khống chế chính quyền ở nhiều buôn, ấp. Dần dần FULRO phát triển tới khu vực Nam Trung Bộ, trong dân tộc Chăm, Khơme. Bọn tình báo, cảnh sát ngụy cũ đã từng gây nhiều tội ác và hận thù với cách mạng tìm mọi cách móc nối với bọn gián điệp cài lại, số điệp viên khoác áo tu sĩ “kẹt lại” và một số đầu mối nội gián trong kế hoạch hậu chiến… Nhiều tên đã móc nối với tổ chức phản động, gây bạo loạn ở một số địa bàn. Tình hình an ninh chính trị ở miền Nam sau giải phóng diễn biến hết sức phức tạp, điều kiện kinh tế ngày càng khó khăn, dẫn đến nhiều vấn đề gây bức xúc, đã xuất hiện những nguy cơ bất ổn và ngày càng trầm trọng.

Trước diễn biến phức tạp của tình hình, cuối năm 1975, đầu năm 1976, Bộ Công an triệu tập Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 30 tại Hà Nội, thống nhất lực lượng Công an nhân dân trên toàn quốc, thành lập Công an các tỉnh phía Nam. Hội nghị đề ra 8 nhiệm vụ chủ yếu đối với công tác công an, trong đó nhấn mạnh: “Nhiệm vụ trong năm 1976 là đấu tranh có hiệu quả với các loại phản cách mạng và các loại tội phạm hình sự, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên cả nước…”. Quán triệt tinh thần của Hội nghị, lực lượng An ninh miền Bắc tiếp tục tăng cường cán bộ có kinh nghiệm, luân phiên cử các đồng chí lãnh đạo trong hệ bảo vệ chính trị, bảo vệ nội bộ vào các tỉnh phía Nam để tập trung đấu tranh chuyên án. Bộ thành lập Phòng Chống nội gián, đặt tại KE3, thành lập các đội chống nội gián tại các tỉnh trọng điểm nhằm bóc gỡ hết mạng lưới nội gián do Mỹ - ngụy cài lại theo Chỉ thị số 17-CT/TW của Trung ương Đảng; thành lập An ninh cụm II đặt tại Lâm Đồng để chỉ đạo và tổ chức đấu tranh chống FULRO theo Chỉ thị số 04-CT/TW, ngày 02/02/1977 của Ban Bí thư Trung ương Đảng; thành lập An ninh cụm III đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh để trực tiếp chỉ đạo và tổ chức đấu tranh chống phản động, gián điệp, bảo vệ nội bộ tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam Bộ.
Đồng thời, lực lượng An ninh đã chủ động điều chỉnh tổ chức, bố trí lại lực lượng theo hướng chuyên sâu, tập trung vào những địa bàn trọng điểm (Ngày 12/6/1981, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 250/CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ Nội vụ, theo đó, thành lập Tổng cục An ninh nhân dân, gồm 12 đơn vị: Cục Tham mưu ANND (A12); Cục Tình báo (A13); Cục Chống gián điệp TQ (A14); Cục Chống gián điệp Mỹ và gián điệp khác (A15); Cục Chống phản động (A16); Cục An ninh kinh tế, văn hóa, tư tưởng (A17); Cục Quản lý người nước ngoài và xuất cảnh, nhập cảnh (A18); Cục Quản lý cửa khẩu (A19); Cục Ngoại tuyến (A21); Cục Kỹ thuật nghiệp vụ 1 (A22); Cục Kỹ thuật nghiệp vụ 2 (A23); Cục An ninh điều tra xét hỏi (A24)), đổi mới các biện pháp nghiệp vụ với phương châm “Nắm địch từ xa, đánh địch từ nơi chúng xuất phát” nhằm vô hiệu hóa, đẩy lùi, đập tan mọi kế hoạch và hoạt động của kẻ thù; chú trọng công tác xây dựng, củng cố, đổi mới phong trào “Bảo vệ an ninh Tổ quốc” có bề rộng và có chiều sâu. Các cơ quan, đơn vị và nhân dân đều tham gia tích cực công tác an ninh, tạo thành thế trận phòng và chống có hiệu quả.
Trong đấu tranh chống gián điệp, phản động, lực lượng An ninh tập trung rà soát, phân loại số nhân viên tình báo, tay sai cũ và làm rõ những đầu mối gián điệp cài lại hoặc ở lại với vỏ bọc hợp pháp. Trong năm 1978, đã đẩy đuổi hơn 100 gián điệp ngoại quốc khoác áo linh mục “bị kẹt lại” (Richard White, Harry Lemeiter, Paul Seiist…); bắt hàng trăm tên gián điệp cài lại, tay sai cũ nhận nhiệm vụ hoạt động cho địch sau chiến tranh.
Từ năm 1976 đến năm 1986, lực lượng An ninh chú trọng thực hiện công tác chống nội gián; khai thác hàng chục ngàn hồ sơ, thẩm tra hàng trăm tên nguyên là sĩ quan điều khiển; bóc gỡ hàng trăm đầu mối, kế hoạch nội gián, có những đầu mối đã chui sâu vào nội bộ ta trong các cơ quan đảng, chính quyền và lực lượng vũ trang; đã giải oan hàng chục trường hợp là cán bộ cách mạng trung kiên bị địch lập hồ sơ giả để bôi lem. Điển hình, như: Công an tỉnh Bình Định phát hiện vụ nội gián trong kế hoạch Hải Triều của Cảnh sát đặc biệt đánh vào Thị ủy Quy Nhơn do Võ Tám cầm đầu; Ty Công an Đồng Nai điều tra phát hiện và bóc gỡ mạng lưới nội gián tại Xí nghiệp dệt Phong Phú do Nguyễn Tấn Thời cầm đầu…

Sau thất bại trong hai cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam và phía Bắc, bọn phản động quốc tế phát động “kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt”, các thế lực phản động quốc tế câu kết với những phần tử chống đối bên trong huấn luyện gián điệp, biệt kích từ bên ngoài về, tổ chức đưa lực lượng, vũ khí, chất nổ xâm nhập vào trong nước lập căn cứ, phát triển tổ chức, móc nối với phản động nội địa tiến hành vũ trang bạo loạn nhằm lật đổ chính quyền. Thời kỳ này, tình hình kinh tế, xã hội đất nước ta đang có nhiều khó khăn, an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội diễn biến phức tạp và phát triển theo chiều hướng xấu. Bọn phản động lưu vong cho là thời cơ lật đổ chính quyền cách mạng đã đến, chúng tập hợp thành hơn 200 tổ chức (ở một số nước như Mỹ, Pháp, Canađa, Cộng hòa Liên bang Đức, Ôxtrâylia…), móc nối với bọn phản động quốc tế để nhận tài trợ và chỉ đạo; đồng thời khuếch trương thanh thế để phát triển lực lượng. Dần dần, chúng chuyển về các nước trong khu vực, xây dựng căn cứ làm bàn đạp và tổ chức xâm nhập về nước.
Quán triệt Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 26/06/1980 của Bộ Chính trị về “Toàn Đảng, toàn dân đánh thắng kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch”, chủ động tiến hành công tác điều tra cơ bản, được nhân dân hỗ trợ, có sự phối hợp chặt chẽ của Quân đội nhân dân và đặc biệt là sự hợp tác của các nước trong khu vực, lực lượng An ninh đã phát hiện âm mưu địch ngay khi chúng tập hợp lực lượng, tổ chức đánh địch ngay từ căn cứ bàn đạp.
Trong quá trình đánh địch, ta dự đoán được hướng xâm nhập, kể cả mục tiêu và đối tượng chúng sẽ móc nối nên chủ động xây dựng thế trận đón đợi, buộc địch phải hoạt động trong sự điều khiển của ta. Từ năm 1980 đến năm 1986, lực lượng An ninh đã phối hợp đồng bộ giữa Trung ương và địa phương để triển khai các biện pháp nghiệp vụ; huy động các đơn vị trinh sát chuyên ngành, tập trung chỉ huy chỉ đạo để thực hiện thắng lợi nhiều chiến dịch phản gián dài ngày với hàng ngàn đối tượng ở trong nước và nước ngoài, trên địa bàn rộng. Do đó đã bắt và diệt toàn bộ số biệt kích xâm nhập, thu toàn bộ vũ khí, phương tiện chúng chuyển vào nội địa; có chiến dịch, ta bắt và diệt 151 tên, gồm cả những tên cầm đầu tổ chức.
Trong kế hoạch KH.CM12 (1981 - 1984), lực lượng An ninh điều khiển trung tâm chỉ huy của địch ở nước ngoài đưa hết số biệt kích đã huấn luyện về nước để bắt gồm 18 chuyến xâm nhập bằng tàu biển với 148 tên, hơn 300 tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh, 14 tấn tiền làm giả tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; trong đó cả những tên cầm đầu tổ chức. Tháng 12/1984, bọn tội phạm trong KH.CM12 bị đưa ra xét xử công khai, gần 100 phóng viên trong và ngoài nước đến dự và đưa tin nhưng bọn đầu sỏ ở nước ngoài vẫn không hay biết, gần 4 năm chúng đã hoạt động dưới sự điều khiển của An ninh Việt Nam.
Đồng thời với chiến thuật dụ địch xâm nhập để bắt hết số đã huấn luyện ở nước ngoài, lực lượng An ninh còn tiến hành đồng bộ các biện pháp trinh sát, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng, tác động làm cho tổ chức phản động trong nội địa phải bộc lộ để trấn áp. Chỉ tính riêng KH.CM12, lực lượng các tỉnh miền Nam đã bóc gỡ 10 tổ chức phản động và hàng chục đầu mối gián điệp, có tổ chức gồm hàng ngàn tên. Bằng những đòn đánh đúng, đánh trúng, đánh hiểm, lực lượng An ninh đã đập tan hướng tấn công chủ yếu của “kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt” do bọn phản động quốc tế phát động. An ninh chính trị không những được giữ vững, giữ ổn định trong lúc tình hình kinh tế xã hội của đất nước đang rất khó khăn mà còn góp phần tạo môi trường an ninh thuận lợi để Đảng và Nhà nước tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới.
Thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW, ngày 02/02/1977 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Giải quyết vấn đề FULRO”, lực lượng An ninh làm nòng cốt đã tham mưu, đề xuất các cấp ủy đảng ban hành chủ trương, biện pháp giải quyết, trong đó kết hợp công tác truy quét với thực hiện chính sách của Đảng về dân tộc, tôn giáo, coi trọng tập quán địa phương, chăm lo cải thiện đời sống nhân dân; đồng thời phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc sâu rộng ở các tỉnh Tây Nguyên và nam Khu V cũ; tranh thủ các già làng, trưởng bản, trí thức có uy tín kêu gọi FULRO trở về làm ăn lương thiện; tổ chức đấu tranh chuyên án, phối hợp với các lực lượng truy quét các toán, nhóm vũ trang, tiêu diệt số cầm đầu, ngoan cố, chống đối, làm tan rã chính quyền bất hợp pháp của FULRO, bảo vệ nhân dân và chính quyền cơ sở. Lực lượng An ninh trên địa bàn Tây Nguyên đã tổ chức đấu tranh hàng chục chuyên án, trong đó có 6 chuyên án lớn làm tan rã bộ khung của chính quyền FULRO từ cấp quân khu tới cơ sở đang ẩn nấp trong rừng. Do triển khai đồng bộ các công tác cơ bản nên tình hình an ninh chính trị ở Tây Nguyên dần được ổn định. An ninh chính trị ở Tây Nguyên từ đây được củng cố vững chắc, tạo đà cho đồng bào các dân tộc từng bước cải thiện đời sống kinh tế, xã hội.
Quán triệt phương châm “chủ động phòng ngừa và liên tục tấn công”, “bóp chết tổ chức ngay từ trong trứng”, kết hợp chính sách trấn áp phù hợp để cô lập, phân hóa, không để nảy sinh phản động, từ năm 1985 - 1986, Công an các địa phương triệt phá các tổ chức phản động, như “Lực lượng phục quốc nội biên Việt Nam” do Trương Văn Lân cầm đầu, tổ chức phản động “Mặt trận cách mạng chân chính Việt Nam tỉnh Thanh Hóa” do Lương Mạnh Hòa cầm đầu.

Thập niên 90 của thế kỷ XX, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng; Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa khác lần lượt tan rã. Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kiên định con đường cách mạng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện nhằm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, tiếp tục phát triển đi lên. Chính vì thế, các thế lực thù địch coi Việt Nam là thành trì của chủ nghĩa xã hội và ráo riết tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ tư tưởng cộng sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng ráo riết tấn công trên mọi lĩnh vực, một trong những hướng tấn công chủ yếu là tuyên truyền đa nguyên, đa đảng, gây bạo loạn làm mất ổn định chính trị; lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, thành lập các tổ chức chính trị đối lập và kích động biểu tình để phá hoại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta.
Kiên định đường lối đổi mới của Đảng, trong thời kỳ này, lực lượng Công an nhân dân đã đổi mới mạnh mẽ về tư duy, biện pháp công tác nghiệp vụ và xây dựng lực lượng; chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước nhiều chủ trương, chính sách quan trọng chiến lược về bảo vệ an ninh, trật tự và xây dựng lực lượng Công an nhân dân; góp phần hình thành, phát triển, hoàn thiện đường lối đổi mới, bảo đảm lợi ích, an ninh quốc gia, mở rộng quan hệ đối ngoại, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; thực hiện tốt vai trò đơn vị Thường trực Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm (Ban Chỉ đạo 138).
Lực lượng An ninh được kiện toàn, thống nhất và điều chỉnh hệ thống tổ chức bộ máy để phù hợp với tình hình, nhiệm vụ ở giai đoạn này, cụ thể: Tháng 12/1988, Tổng cục An ninh nhân dân gồm 13 đầu mối: Cục Tham mưu ANND (A12); Cục Chống gián điệp TQ (A14); Cục Chống gián điệp Mỹ và gián điệp khác (A15); Cục Chống phản động (A16); Cục Bảo vệ Nội bộ (A17); Cục Quản lý cửa khẩu, quản lý người nước ngoài và xuất cảnh, nhập cảnh (A18); Cục Ngoại tuyến (A21); Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I (A22); Cục Kỹ thuật nghiệp vụ II (A23); Cục An ninh điều tra xét hỏi (A24); Cục Hồ sơ nghiệp vụ an ninh (A27); Cục Chính trị an ninh nhân dân (A28); Phòng Hậu cần an ninh nhân dân.

Ngày 31/1/1989, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định số 11/HĐBT về sửa đổi, bổ sung tổ chức của Bộ Nội vụ, trong đó đổi tên Tổng cục An ninh nhân dân thành Tổng cục Phản gián; thành lập Tổng cục Tình báo và Bộ Tư lệnh Cảnh vệ thuộc Bộ Nội vụ. Thực hiện Nghị định số 11/HĐBT, ngày 27/11/1989, Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 164-QĐ/BNV quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Phản gián, gồm 14 đầu mối, trong đó giữ nguyên 10 đầu mối từ A12 đến A23 và A27, đổi tên 02 đơn vị là Cục An ninh điều tra xét hỏi (A24) thành Cục An ninh điều tra (A24), Cục Chính trị an ninh nhân dân (A28) thành Cục Chính trị phản gián (A28), nâng Phòng Hậu cần an ninh nhân dân thành Cục Hậu cần phản gián (A29) và bổ sung các trường Đại học, Trung học An ninh nhân dân.
Tháng 6/1998, bộ máy của Tổng cục Phản gián được điều chỉnh thành 15 cục trực thuộc, gồm: Cục Tham mưu (A12); Cục Bảo vệ kinh tế (A17); Cục Quản lý xuất cảnh, nhập cảnh (A18); Cục Ngoại tuyến (A21); Cục Kỹ thuật nghiệp vụ 1 (A22); Cục Kỹ thuật nghiệp vụ 2 (A23); Cục An ninh điều tra (A24); Cục Bảo vệ an ninh văn hóa, tư tưởng (A25); Cục Hồ sơ an ninh nhân dân (A27); Cục Chính trị phản gián (A28); Cục Hậu cần phản gián (A29); Cục Bảo vệ chính trị 1 (A35); Cục Bảo vệ chính trị 2 (A36); Cục Bảo vệ chính trị 3 (A37); Cục Bảo vệ chính trị 4 (A38). Ngày 09/6/1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 37/1998/NĐ-CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Bộ Công an, trong đó, đổi tên từ Tổng cục Phản gián thành Tổng cục An ninh. Đến tháng 10/2003, bộ máy của Tổng cục An ninh được điều chỉnh thành 16 cục trực thuộc: trong đó giữ nguyên 14 đầu mối từ A12 đến A37, đổi phiên hiệu Cục Bảo vệ chính trị 4 từ A38 thành A41; thành lập mới Cục Bảo vệ chính trị V (A42).
Ngày 14/11/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 136/2003/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an. Thực hiện Nghị định số 136/2003/NĐ-CP, ngày 14/12/2004, Bộ Công an ban hành Quyết định số 1437/2004/QĐ-BCA(X13) quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục An ninh, gồm 18 đầu mối: giữ nguyên các cục từ A12 đến A42, thành lập thêm Cục An ninh Tây Nguyên (A43); Cục An ninh Tây Nam Bộ (A44). Đến 2005, thành lập thêm Cục An ninh Tây Bắc (A45), năm 2006 thành lập Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo về nhân quyền trực thuộc Tổng cục. Ngày 15/9/2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 77/2009/NĐCP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an, theo đó Tổng cục An ninh được tách thành Tổng cục An ninh I và Tổng cục An ninh II.
Thực hiện Nghị định số 77/2009/NĐ-CP, ngày 11/12/2009, Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Quyết định số 4045/QĐ-BCA quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục An ninh I, gồm các đơn vị: Cục Tham mưu an ninh I (A62); Cục Bảo vệ chính trị II (A63); Cục Bảo vệ chính trị III (A64); Cục Bảo vệ chính trị IV (A65); Cục Bảo vệ chính trị V (A66); Cục Bảo vệ chính trị VII (A67); Cục Bảo vệ chính trị VIII (A68); Cục Ngoại tuyến (A69); Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I (A70); Cục Kỹ thuật nghiệp vụ II (A71); Cục Quản lý xuất, nhập cảnh (A72); Cục Chính trị, hậu cần an ninh I (A73); Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo về nhân quyền (A74); Thanh tra Tổng cục An ninh I (A75); Cơ quan UBKT Tổng cục An ninh I (A76). Tổng cục An ninh II, gồm các đơn vị: Cục Tham mưu an ninh II (A82); Cục An ninh chính trị nội bộ (A83); Cục An ninh tài chính, tiền tệ, đầu tư (A84); Cục An ninh kinh tế tổng hợp (A85); Cục An ninh nông thôn (A86); Cục An ninh thông tin, truyền thông (A87); Cục An ninh xã hội (A88); Cục An ninh Tây Bắc (A89); Cục An ninh Tây Nguyên (A90); Cục An ninh Tây Nam Bộ (A91); Cục An ninh điều tra (A92); Cục Hồ sơ nghiệp vụ an ninh (A93); Cục Chính trị an ninh II (A94); Cục Hậu cần an ninh II (A95); Thanh tra Tổng cục An ninh II (A96); Cơ quan UBKT Tổng cục An ninh II (A97).
Ngày 17/11/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 106/2014/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an. Tổng cục An ninh I và Tổng cục An ninh II hợp nhất thành Tổng cục An ninh, gồm các đơn vị: Cục Tham mưu An ninh (A62); Cục Bảo vệ chính trị I (A63); Cục Bảo vệ chính trị II (A65); Cục Bảo vệ chính trị III (A64); Cục Bảo vệ chính trị IV (A66); Cục Bảo vệ chính trị V (A67); Cục Ngoại tuyến (A69); Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I (A70); Cục Kỹ thuật nghiệp vụ II (A71); Cục Quản lý xuất nhập cảnh (A72); Cục Chính trị An ninh (A73); Văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo về nhân quyền (A74); Thanh tra Tổng cục (A74); Cục Hậu cần An ninh (A77); Cục An ninh chính trị nội bộ (A83); Cục An ninh tài chính, tiền tệ và đầu tư (A84); Cục An ninh kinh tế tổng hợp (A85); Cục An ninh kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp (A86); Cục An ninh văn hóa, thông tin truyền thông (A87); Cục An ninh xã hội (A88); Cục An ninh Tây Bắc (A89); Cục Bảo An ninh Tây Nguyên (A90); Cục An ninh Tây Nam Bộ (A91); Cục An ninh điều tra (A92); Cục Hồ sơ nghiệp vụ an ninh (A93); Cục An ninh cửa khẩu (A98).
Ngày 06/8/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2018/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an. Theo đó, lực lượng An ninh nhân dân gồm các đơn vị: Cục An ninh đối ngoại (A01); Cục An ninh nội địa (A02); Cục An ninh chính trị nội bộ (A03); Cục An ninh kinh tế (A04); Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05); Cục Kỹ thuật nghiệp vụ (A06); Cục Ngoại tuyến (A07); Cục Quản lý xuất nhập cảnh (A08); Cục An ninh điều tra (A09).
Tuy mỗi giai đoạn, hệ thống tổ chức bộ máy lực lượng An ninh có sự điều chỉnh song xuyên suốt trong mọi giai đoạn cách mạng, lực lượng An ninh đều phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, tận tụy với công việc, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động của thế lực thù địch, bảo vệ an toàn tuyệt đối Đảng, nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Trên lĩnh vực đấu tranh chống gián điệp, phản động, tháng 02/1987, lực lượng An ninh đón bắt toán cuối cùng tại đảo Ko Kông Kang, xóa sổ tổ chức phản động do Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh cầm đầu. Trong Chuyên án HM29 đấu tranh với tổ chức phản động lưu vong “Mặt trận quốc gia giải phóng Việt Nam” do Hoàng Cơ Minh (nguyên Phó đô đốc Hải quân quân đội Sài Gòn) và Trần Quang Đô cầm đầu (tháng 9/1987) - tổ chức phản động người Việt lưu vong được Mỹ, Thái Lan tài trợ, đã tập hợp khoảng 350 đối tượng; lực lượng An ninh phối hợp với quân đội Lào đón đánh 23 cuộc “Hành quân Đông Tiến”, diệt và bắt 269 tên, xóa sổ tổ chức phản động này. Xóa bỏ tổ chức phản động trên là một thắng lợi có ý nghĩa quốc tế của ba nước Đông Dương, đồng thời khẳng định sự đúng đắn của quan điểm “chủ động phòng ngừa, chủ động tiến công đánh địch từ xa” trong cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia.
Trong bối cảnh các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, tăng cường hoạt động bạo loạn, lật đổ, ngày 29/6/1992, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 03-NQ/HNTW xác định 8 nhiệm vụ, trong đó trọng tâm là bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, tăng cường công tác nắm tình hình, chủ động và liên tục tấn công tội phạm, giữ vững an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Với tinh thần chủ động, sáng tạo, nắm địch từ xa, đánh địch từ nơi chúng xuất phát, lực lượng An ninh đã tăng cường công tác nắm tình hình, phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng đẩy lùi, vô hiệu hoá và đập tan hoạt động xâm nhập của địch, kiềm toả, vô hiệu hoá các chiến dịch phá hoại tư tưởng; ngăn chặn kịp thời hoạt động của các tổ chức chính trị đối lập, các thế lực thù địch, chống đối trong và ngoài nước. Đã khám phá hàng chục chuyên án lớn (LH90, PQ55, HC96, SB36, HM29…); trục xuất các đối tượng lợi dụng mở cửa hợp tác quốc tế vào nước ta để phá hoại tư tưởng và hoạt động gián điệp (Miriam, Manoli, Đàm Văn Toại…); ngăn chặn và đập tan hàng chục chiến dịch gây nổ, gây bạo loạn, thành lập các tổ chức chính trị đối lập mang tên “Chiến dịch Đông Xuân”, “Chiến dịch Hoa Lan”, “Chiến dịch Hoa Phượng”, “Chiến dịch Hòa Bình”… của các tổ chức phản động lưu vong danh xưng “Liên đảng cách mạng Việt Nam” do Hoàng Việt Cương cầm đầu; “Đảng nhân dân hành động” do Nguyễn Sĩ Bình cầm đầu, “Chính phủ Việt Nam tự do” do Nguyễn Hữu Chánh cầm; tổ chức “Việt Tân”…; tác động, vô hiệu hoá và đẩy lùi hàng chục chiến dịch gây nổ khác khi các đối tượng đang trong quá trình chuẩn bị; làm rõ thủ phạm gây nổ tại trụ sở Công an phường 12, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018; vụ đốt cây xăng tại Khánh Hòa năm 2017; vụ gây nổ tại cổng sau Công an tỉnh Hậu Giang năm 2018; vụ gây nổ tại Cục thuế tỉnh Bình Dương năm 2019… Đấu tranh, ngăn chặn, làm thất bại âm mưu, hoạt động tổ chức hàng chục cuộc biểu tình chống Nhà nước, không để các đối tượng lợi dụng, biến các cuộc biểu tình tự phát của người dân thành ngòi nổ tiến hành cách mạng màu, cách mạng đường phố ở Việt Nam; bắt, xử lý hình sự hơn 80 đối tượng; đấu tranh, bóc gỡ, vô hiệu hóa gần 2.000 đối tượng, hơn 3.000 cơ sở nội địa và đối tượng liên quan phản động ở địa phương, đẩy đuổi hàng trăm tên xâm nhập về nước, thu giữ phương tiện chèn cướp sóng đài phát thanh, hàng trăm kg chất nổ, hàng nghìn kíp mìn, hàng trăm cờ ngụy cũ.
Đối với địa bàn chiến lược, lực lượng An ninh đã tham mưu với Bộ báo cáo, đề xuất lãnh đạo Đảng, Nhà nước củng cố hệ thống chính trị cơ sở, “kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh”, nâng cao đời sống nhân dân. Tại Tây Bắc, lực lượng An ninh đã đấu tranh, ngăn chặn, giải tán hoạt động tụ tập đông người “xưng vua”, lập “vương quốc Mông” tại huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên các năm 2011, 2014, 2015; đấu tranh xóa bỏ hoàn toàn “tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình” đã tồn tại nhức nhối hơn 30 năm trong vùng đồng bào dân tộc Mông. Tại Tây Nguyên, kịp thời tham mưu giải quyết thành công bạo loạn ở Tây Nguyên các năm 2001, 2004; đấu tranh ngăn chặn hoạt động kích động ly khai, tự trị, thành lập “Nhà nước Đêga” của tổ chức “Quỹ người Thượng - MFI”, số đối tượng chống đối hoạt động tại Campuchia, Thái Lan; xác minh, ngăn chặn nhiều đối tượng kích động người dân tộc thiểu số trốn sang Campuchia, Thái Lan. Ở Tây Nam Bộ, lực lượng An ninh vô hiệu hoá hầu hết các hoạt động chống đối của số cực đoan trong dân tộc, Phật giáo Nam tông Khmer và số Khmer Campuchia Krom bên ngoài.
Lực lượng An ninh đã tham mưu giải quyết có hiệu quả các điểm nóng, các vụ tranh chấp khiếu kiện, như: vụ gây rối trật tự công cộng, cố ý hủy hoại tài sản xã hội chủ nghĩa, tài sản công dân, cố ý gây thương tích tại các huyện Thái Thụy, Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình; vụ tập trung đông người, biểu tình, gây rối an ninh, trật tự tại Hà Tĩnh năm 2016, tại tỉnh Bình Thuận năm 2018, tại huyện Đồng Tâm (Hà Nội) năm 2020…; đập tan ý đồ thành lập “Hiệp hội dân oan Việt Nam” và âm mưu lợi dụng danh nghĩa “dân oan” để thành lập các hội, nhóm nhằm tập hợp lực lượng khiếu kiện toàn quốc. Một số đối tượng bất mãn, quá khích, lợi dụng dân chủ, nhân quyền, tôn giáo và dân tộc, cố tình đi ngược lại quyền lợi của quốc gia dân tộc như Nguyễn Hộ, Lê Quang Liêm, Nguyễn Văn Lý, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Trung Tôn, Phạm Đoan Trang, Lê Văn Dũng, Nguyễn Lân Thắng, Phạm Chí Dũng, Phan Thanh Hải, Vi Đức Hồi… bị nghiêm trị, qua đó đấu tranh vô hiệu hóa, làm tan rã hàng chục hội, nhóm chống đối như Nhóm “Câu lạc bộ trí thức”, “Hội Anh em dân chủ”, “Mạng lưới Blogger Việt Nam”… vừa giúp cho đồng chí, đồng bào thêm cảnh giác, vừa khẳng định luật pháp của Việt Nam không chỉ nghiêm minh mà còn tạo cơ hội để họ phục thiện.
Đối với các tổ chức phản động lưu vong câu kết với số đối tượng chống đối trong nước, lực lượng An ninh tăng cường công tác nắm tình hình, vô hiệu hóa âm mưu hoạt động khủng bố, phá hoại, nổi bật là đấu tranh, cơ bản phá rã tổ chức “Triều đại Việt”; phân hóa, hạn chế hoạt động của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”; ngăn chặn ý đồ xâm nhập về nước hoạt động của tổ chức “Việt Tân”, “Lao động Việt”… Tăng cường công tác đấu tranh ngoại giao, thực hiện các biện pháp, đối sách linh hoạt, mềm dẻo, tác động Mỹ, EU, Ôxtrâylia có đánh giá khách quan, tính cực về tình hình dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam; hạn chế đến mức thấp nhất việc can thiệp về vấn đề nhân quyền trên lĩnh vực tôn giáo trong quá trình đàm phán tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Hiệp định thương mại Việt - Mỹ (BTA) và các Hiệp định thương mại gần đây như: CPTPP, EVFTA... Bảo đảm an ninh tôn giáo, tham mưu giải quyết các vụ việc phức tạp, tranh chấp nhà, đất liên quan tôn giáo, giải quyết những phức tạp liên quan hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo mới, tà đạo, các cá nhân, tổ chức phản động núp bóng lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo; tranh thủ chức sắc, chức việc trong bảo đảm an ninh tôn giáo.

Trong giai đoạn từ 2011 đến nay, lực lượng An ninh đã chủ động nắm, đánh giá, dự báo sát, đúng tình hình, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước đề ra và lãnh đạo thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, quan điểm về bảo vệ an ninh quốc gia, góp phần khai thác tối đa cơ hội, hóa giải kịp thời thách thức, giảm thiểu tác động tiêu cực từ những biến động phức tạp của cục diện an ninh - chính trị thế giới, khu vực, xử lý có hiệu quả những vấn đề phức tạp nảy sinh, tạo môi trường hoà bình, ổn định, thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng đối ngoại và nâng tầm vị thế đất nước. Lực lượng An ninh đối ngoại đã làm tốt công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh hiệu quả với hoạt động của các đối tượng tình báo gián điệp; kịp thời phát hiện, vô hiệu hoá hoạt động thu thập tình báo, thâm nhập nội bộ, xây dựng cơ sở cài cắm nội gián. Triển khai hàng nghìn kế hoạch nghiệp vụ, hàng trăm chuyên án trinh sát với hàng trăm đối tượng tình báo gián điệp; phát hiện, xác minh, bóc gỡ, vô hiệu hóa hàng nghìn đầu mối nội gián, cơ sở gián điệp của cơ quan đặc biệt nước ngoài; ngăn chặn, kiềm tỏa hoạt động hà hơi, tiếp sức cho số đối tượng chống đối của các thế lực thù địch. Chủ động phối hợp với cơ quan an ninh, tình báo các nước duy trì bảo đảm an ninh từ xa, tạo vành đai bảo vệ an ninh, lợi ích của Việt Nam từ ngoài biên giới lãnh thổ. Phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xử lý các vụ việc phát sinh ở biên giới đất liền giữa Việt Nam và các nước; nắm tình hình, tham mưu xử lý có hiệu quả những tình hình phức tạp về an ninh biên giới, biển đảo góp phần giữ vững chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Phòng ngừa, ngăn chặn các thế lực thù địch lợi dụng các địa bàn giáp biên để đứng chân, xâm nhập, chống phá. Thúc đẩy hiệu quả công tác bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài, nhất là vấn đề giấy tờ pháp lý cho người Việt tại Campuchia.
Lực lượng An ninh tham gia tích cực triển khai các phương án, kế hoạch bảo vệ an ninh, an toàn tuyệt đối các hoạt động, sự kiện chính trị quan trọng của đất nước như Đại hội Đảng lần thứ XI (tháng 01/2011), lần thứ XII (tháng 01/2016), lần thứ XIII (tháng 01/2021), bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII, XIV, XV…, các hội nghị, chuyến thăm của chính khách các nước lớn đến Việt Nam (APEC 2017, Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Triều lần thứ 2, Đại lễ Vesak 2019, Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 36, 37, Hội nghị AIPA 41 và các hoạt động liên quan đến Năm Chủ tịch ASEAN 2020…), góp phần nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, xây dựng hình ảnh nước Việt Nam hòa bình, hữu nghị.
Trên lĩnh vực an ninh chính trị nội bộ, an ninh văn hóa, tư tưởng, từ năm 1986 đến năm 1997, công tác bảo vệ chính trị nội bộ tập trung đấu tranh phòng, chống tác động chuyển hóa nội bộ của các thế lực thù địch. Từ năm 1998 đến nay, xác định đấu tranh, chống suy thoái về đạo đức, lối sống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề mang tính quyết định, lực lượng An ninh đã kịp thời phát hiện, đấu tranh làm thất bại nhiều âm mưu, hoạt động phá hoại, thâm nhập nội gián, tác động chuyển hóa nội bộ của các thế lực thù địch, phản động, tạo thế chủ động chiến lược trong phòng ngừa, bảo vệ an ninh nội bộ. Tổ chức xác minh nhân sự phục vụ công tác quy hoạch Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, XIII, XIV; luân chuyển, điều động và bổ nhiệm lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước. Kịp thời kiến nghị giải pháp, biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý các vụ việc, cá nhân có dấu hiệu, hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, an ninh chính trị nội bộ, lộ lọt bí mật nhà nước; đặc biệt là âm mưu, ý đồ tác động, chuyển hóa nội bộ, xây dựng ngọn cờ, tập hợp lực lượng chính trị đối lập của các thế lực thù địch. Triển khai đồng bộ các biện pháp, đấu tranh mạnh với số đối tượng có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, tiêu cực và các nhóm đối tượng trong nước tạo lập hệ thống kênh truyền thông mạng xã hội chống Đảng, Nhà nước. Qua công tác đấu tranh, lực lượng An ninh đã phát hiện một số cán bộ trong diện Trung ương quản lý có thân nhân liên quan đến các tổ chức phản động lưu vong, quan hệ phức tạp với nước ngoài, che giấu lý lịch để làm việc trong các cơ quan thiết yếu, cơ mật và số có vấn đề chính trị tham gia nhân sự cấp ủy các cấp, tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân. Phát hiện, xác minh làm rõ và chuyển cơ quan điều tra khởi tố hàng chục vụ án hình sự “làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, khởi tố hàng trăm đối tượng có liên quan để điều tra theo quy định của pháp luật.
Công tác đấu tranh chống địch phá hoại tư tưởng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được thực hiện thường xuyên, bài bản, có trọng tâm, trọng điểm, chiến dịch cụ thể đối với từng sự kiện lớn, quan trọng, xử lý các vụ việc được dư luận đặc biệt quan tâm. Phát huy hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo 35 Công an các đơn vị, địa phương. Từ năm 2015 đến nay, Ban Chỉ đạo 35 Công an các đơn vị, địa phương đã xây dựng gần 10.000 chuyên mục, trên 9.000.000 tin, bài, phóng sự, với nhiều “chiến dịch truyền thông” quy mô lớn thông qua 10.000 cổng/trang thông tin điện tử, trang mạng xã hội thu hút hàng trăm triệu lượt tiếp cận, tương tác, đấu tranh vạch mặt âm mưu, thủ đoạn kích động của các thế lực thù địch. Tổ chức tấn công ngăn chặn và yêu cầu nhà mạng gỡ bỏ, ngăn chặn trên 10.000 trang mạng có nội dung sai sự thật, xấu độc, máy chủ đặt tại nước ngoài; phá rã trên 410 hội, nhóm, kênh truyền thông; vô hiệu hóa trên 80.000 tài khoản, bài viết, hơn 100 triệu lượt tán phát thông tin xấu, độc, tin giả, sai sự thật; gần 500 cổng thông tin điện tử, trang, tài khoản facebook giả mạo, lấy tên các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Chỉ đạo xử lý hình sự trên 800 đối tượng; xử lý vi phạm hành chính trên 5.000 đối tượng; gọi hỏi, răn đe hơn 6.000 trường hợp, yêu cầu cam kết không tái phạm, gỡ bỏ tin giả, sai sự thật, góp phần quan trọng giải quyết nhiều vụ việc phức tạp, phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý nguy cơ khủng hoảng, điểm nóng về truyền thông, ảnh hưởng tiêu cực tới an ninh trật tự nói chung, an ninh chính trị nội bộ, an ninh thông tin truyền thông, an ninh văn hóa tư tưởng nói riêng.
Trên lĩnh vực an ninh nội địa, an ninh tôn giáo, dân tộc, lực lượng An ninh đã tham mưu Đảng ủy Công an Trung ương triển khai hiệu quả các chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước, như tham mưu chủ trương đàm phán nâng cao quan hệ ngoại giao Việt Nam - Vatican từ mức Đặc phái viên không thường trú lên Đại diện thường trú (năm 2024); hỗ trợ Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức các hoạt động trong khuôn khổ Đại lễ Vesak Liên hợp quốc 2019, 2025…
Thực hiện tốt công tác tiếp xúc, tranh thủ hàng nghìn chức sắc, người có uy tín trong tôn giáo, dân tộc, tác động, hướng lái các tổ chức tôn giáo hoạt động thuần túy, tuân thủ pháp luật. Tham mưu giải quyết các vụ việc phức tạp, ngăn chặn, xử lý kịp thời những hiện tượng “tín ngưỡng”, “tôn giáo mới”, không để phát sinh tình hình phức tạp về an ninh, trật tự; tập trung đấu tranh, kiềm tỏa, vô hiệu hóa hoạt động chống đối của số chức sắc cực đoan trong tôn giáo, các tổ chức, cá nhân phản động núp bóng lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số như “tà đạo Hà Mòn”, “Tin lành Đềga”, “Giê Sùa”, “Bà Cô Dợ”, “Tin lành Đấng Christ”…; điều tra, xử lý nghiêm các đối tượng là chức sắc trong tôn giáo, số giáo dân Công giáo là thành viên của các tổ chức, hội, nhóm, cơ sở nội địa các tổ chức phản động lưu vong và đồng bọn, không để số này tập hợp, phát triển lực lượng, công khai hóa tổ chức phản động trong nước.
Trên lĩnh vực an ninh kinh tế, lực lượng An ninh đã tham mưu với Nhà nước, các cơ quan, ban, ngành kịp thời hoạch định chính sách cũng như đề ra các biện pháp quản lý kinh tế phù hợp với môi trường sản xuất kinh doanh mới. Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng, chủ động phòng ngừa kết hợp với khám phá hàng chục chuyên án điển hình về buôn lậu, tham nhũng, hoàn thuế VAT, trộm cước viễn thông, làm và vận chuyển tiền giả; bóc gỡ mạng lưới tội phạm xuyên quốc gia, phá vỡ mối liên kết các ổ, nhóm tội phạm mang tính quốc tế và nhiều vụ án kinh tế lớn, góp phần hạn chế thiệt hại cho Nhà nước hàng ngàn tỉ đồng.
Điển hình là các vụ án: Nguyễn Đức Tâm sử dụng công nghệ cao trộm cắp cước viễn thông, vụ cố ý làm trái quy định và tham ô tại Công ty dệt Nam Định, Công ty Tamexco (1996), vụ buôn lậu hàng hóa trái phép của Công ty Tân Trường Sanh (1997)… đưa các đối tượng ra xét xử, đồng thời tuyên truyền để răn đe giáo dục.
Qua công tác bảo đảm an ninh kinh tế, kịp thời tham mưu sửa đổi, bổ sung, khắc phục những sơ hở, bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo, khó khăn, vướng mắc trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách và công tác quản lý nhà nước về kinh tế, góp phần phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời các nguy cơ về an ninh kinh tế; xây dựng, sửa đổi, bổ sung hệ thống các luật, nghị định và văn bản hướng dẫn thực hiện về bảo vệ bí mật nhà nước, ngân hàng, các tổ chức tín dụng, phòng, chống rửa tiền, đất đai, bảo vệ môi trường, đầu tư, đầu tư công, đầu tư theo phương thức đối tác công tư, chứng khoán, doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng...
Tham mưu chấn chỉnh, sửa đổi các cơ chế, chính sách về thăm dò, khai thác tài nguyên khoáng sản, quản lý phân bón, bất ổn đe dọa an ninh kinh tế trên các lĩnh vực kinh tế trọng điểm như ngân hàng, tài chính, chứng khoán, trái phiếu, năng lượng, hàng không, bất động sản...; tình hình phức tạp trong cổ phần hóa, thoái vốn, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; tiêu cực, tham nhũng tại các dự án kinh tế lớn, quản lý sử dụng đất đai, nhất là 12 dự án, doanh nghiệp yếu kém ngành Công Thương, sai phạm tại các dự án BOT giao thông…
Bảo đảm tuyệt đối an ninh công nhân. Thẩm định về bảo đảm yêu cầu an ninh, trật tự đối với hàng nghìn hồ sơ dự án đầu tư nước ngoài, dự án phát triển kinh tế - xã hội trọng điểm; tham gia giải quyết 14 vụ khiếu kiện tranh chấp đầu tư quốc tế. Từ năm 2011 đến nay, an ninh kinh tế đã chuyển cơ quan điều tra tiến hành điều tra, xử lý theo thẩm quyền trên 1.000 vụ án, khởi tố hàng nghìn bị can (đặc biệt trong đó có nhiều lãnh đạo, cán bộ chủ chốt của các bộ, ngành), thu hồi hàng chục nghìn tỷ đồng, hàng trăm triệu đô la Mỹ, hàng chục nghìn viên ma tuý tổng hợp và nhiều tài liệu, thiết bị, hàng hoá khác.
Trên lĩnh vực an ninh thông tin, an ninh mạng, Bộ Công an thành lập Cục An ninh mạng, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước nhiều chủ trương, quyết sách về bảo vệ an ninh mạng, hoàn thiện quy định pháp luật về bảo đảm An ninh mạng, như: Chiến lược An ninh mạng quốc gia, Luật An ninh mạng, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và các nghị định; đồng thời triển khai các biện pháp nghiệp vụ, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông ngăn chặn truy cập hàng nghìn trang web, blog có máy chủ đặt tại nước ngoài; chỉ đạo lực lượng chức năng tổ chức nhiều đợt tấn công, vô hiệu hóa hàng trăm diễn đàn, blog, trang tin điện tử của tổ chức, cá nhân phản động, chống đối trong và ngoài nước; phản bác các quan điểm sai trái, thù dịch, định hướng dư luận, vạch mặt các đối tượng chống phá; phát hiện và giải quyết hàng chục vụ việc trên mạng Facebook kêu gọi, kích động biểu tình, xử lý trước pháp luật nhiều đối tượng cực đoan, vi phạm pháp luật, góp phần kiềm chế hoạt động của các đối tượng, đảm bảo an ninh trên không gian mạng và an ninh xã hội. Bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn hệ thống mạng thông tin quốc gia, thường trực giám sát, khắc phục sự cố tại các hệ thống thông tin trọng yếu kết nối Trung tâm An ninh mạng quốc gia; điều tra, truy vết, ngăn chặn hoạt động tấn công mạng, gián điệp đặc biệt nguy hiểm nhằm vào các hệ thống trọng yếu, các cơ quan của Đảng, Nhà nước...; chủ động phòng ngừa và xử lý kịp 25 thời các nguy cơ mất an ninh trong triển khai Đề án 06 của Chính phủ. Đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, từ năm 2010 đến nay đã phát hiện, xác minh điều tra hàng ngàn vụ việc, khởi tố hàng nghìn bị can, thu hồi tiền và hàng ngàn máy tính xách tay, điện thoại di động, linh kiện điện tử, các loại hàng hoá và máy móc thiết bị chuyên dụng trị giá hàng ngàn tỷ đồng. Phát hiện, xử lý hình sự nhiều đối tượng tổ chức đánh bạc trực tuyến trên mạng Internet với số tiền giao dịch lên tới hàng nghìn tỉ đồng.
Với sự hy sinh, cống hiến thầm lặng của lực lượng trinh sát kỹ thuật nghiệp vụ và trinh sát ngoại tuyến, tiềm lực bảo vệ an ninh quốc gia, đấu tranh phòng, chống tội phạm của lực lượng ngày càng được tăng cường, góp phần đấu tranh có hiệu quả với những âm mưu, hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia của các thế lực thù địch, cơ quan đặc biệt nước ngoài, các loại đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị, đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Mọi chiến công, thành tích của lực lượng An ninh nhân dân đều có đóng góp quan trọng của lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ, lực lượng ngoại tuyến.
Trên lĩnh vực quản lý xuất nhập cảnh, quản lý người nước ngoài, dấu ấn nổi bật của lực lượng Quản lý xuất nhập cảnh là đã tham mưu, xây dựng đồng bộ hệ thống quy phạm pháp luật về xuất nhập cảnh, thể chế hóa đầy đủ, kịp thời đường lối, chính sách của Đảng, quy định của Hiến pháp về quyền đi lại của công dân, cụ thể hóa chủ trương mở cửa, hội nhập, thể hiện sự đổi mới mạnh mẽ, toàn diện chính sách về xuất nhập cảnh, góp phần thu hút người nước ngoài vào Việt Nam đầu tư, du lịch..., tạo điều kiện thuận lợi cho công dân xuất cảnh, nhập cảnh, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch nền hành chính công, giảm thời gian, chi phí, đi lại trong giải quyết các thủ tục hành chính lĩnh vực xuất nhập cảnh. Từ năm 1986 đến nay, lực lượng Quản lý xuất nhập cảnh đã tham mưu Bộ đề xuất Chính phủ ban hành Nghị định số 136/2007/NĐ-CP, ngày 17/8/2007, Nghị định số 65/2012/NĐ-CP, ngày 06/9/2012, Nghị định số 94/2015/NĐ-CP, ngày 16/10/2015 của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam; các nghị định Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài là vợ, chồng, con của người Việt Nam định cư nước ngoài hoặc của công dân Việt Nam; Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam; Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; Nghị định số 07/2017/NĐCP, ngày 25/01/2017, quy định trình tự, thủ tục thực hiện thí điểm cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam…
Triệt để ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý xuất nhập cảnh rút ngắn thời gian làm thủ tục nhập và xuất cảnh, giảm tình trạng ùn tắc ở sân bay (thực hiện thí điểm cấp thị thực điện tử; triển khai hệ thống khai báo tiếp nhận và quản lý thông tin tạm trú của người nước ngoài qua Internet; khai, tiếp nhận hồ sơ và làm thủ tục cấp, đổi hộ chiếu phổ thông trực tuyến…) và giảm 40% thủ tục về xuất nhập cảnh theo Đề án 30 của Chính phủ là minh chứng thể hiện sự gương mẫu, đi đầu của lực lượng Quản lý xuất nhập cảnh về cải cách hành chính, với nhiều thủ tục thông thoáng, thuận tiện, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân xuất cảnh, nhập cảnh và người nước ngoài vào Việt Nam được các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong, ngoài nước ghi nhận và đánh giá cao về tính minh bạch, chuyên nghiệp, hiện đại, thuận lợi, dễ dàng cho người xuất nhập cảnh. Thông qua việc tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát công tác xuất, nhập cảnh tại các cảng hàng không quốc tế, lực lượng quản lý xuất nhập cảnh đã kịp thời hỗ trợ các đơn vị nghiệp vụ nắm thông tin về đối tượng cần chú ý; phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của người nước ngoài và công dân Việt Nam; phát hiện, bắt giữ liên tiếp hàng chục vụ vận chuyển ma tuý quốc tế qua đường hàng không. Đặc biệt, từ ngày 01/3/2025, lực lượng Quản lý xuất nhập cảnh tiếp nhận nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo đảm an ninh hàng không và cung cấp dịch vụ bảo đảm an ninh hàng không tại cảng hàng không, sân bay và cơ sở xử lý hàng hoá, bưu gửi để đưa lên tàu bay đã tạo sự gắn kết, liên thông, khắc phục tình trạng chia cắt, một việc do nhiều cơ quan đảm nhiệm trước đây, giảm các cơ chế phối hợp, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu quả phục vụ nhân dân.
Trên lĩnh vực điều tra tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, lực lượng An ninh điều tra tích cực phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ an ninh, thu thập, củng cố tài liệu, chứng cứ vững chắc; xây dựng hồ sơ pháp lý chặt chẽ, áp dụng linh hoạt, sáng tạo các quy định của pháp luật, điều tra, truy tố, xét xử hàng trăm vụ án xâm phạm an ninh quốc gia. Đặc biệt, lực lượng An ninh điều tra đã được giao điều tra các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng theo dõi, chỉ đạo, các vụ án, vụ việc thường xin ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Thành ủy. Điển hình như các vụ án: “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam” (Vinashin) năm 2010; “Giang Kim Đạt và đồng phạm tham ô tài sản, rửa tiền xảy ra tại Công ty TNHH Một thành viên Vận tải Viễn Dương Vinashin” (Vinashinlines) năm 2014; Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh cùng đồng phạm cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, tham ô tài sản, xảy ra tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và Tổng công ty cổ phần Xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC) năm 2017...
Trên lĩnh vực đối ngoại về an ninh, cùng với lực lượng Tình báo, lực lượng An ninh thông qua hợp tác về an ninh đã chủ động trao đổi với các nước về quan điểm, chủ trương của Việt Nam trong xử lý các vấn đề quan hệ quốc tế, quan hệ song phương và vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, thu hẹp những khoảng cách bất đồng và hạn chế những yếu tố tiêu cực trong chính sách của một số đối tác đối với Việt Nam. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh với những luận điệu chống Việt Nam, can thiệp vào nội bộ Việt Nam của Mỹ, EU và các thế lực thù địch, góp phần làm giảm áp lực từ bên ngoài, đẩy lùi âm mưu lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” hoạt động gây mất ổn định an ninh, trật tự đối với Việt Nam.

Chủ động thiết lập, củng cố phòng tuyến bảo vệ an ninh quốc gia từ xa, phối hợp với các đối tác tăng cường công tác trao đổi tình hình, chia sẻ thông tin về hoạt động của các thế lực thù địch và các loại tội phạm để ngăn chặn kịp thời. Trao đổi, phối hợp với các cơ quan thực thi pháp luật của Lào, Campuchia, Thái Lan ngăn chặn kịp thời một số tổ chức phản động người Việt lưu vong đưa người xâm nhập về Việt Nam, ngăn chặn hoạt động tuyên truyền lôi kéo lập “Vương quốc Mông”, hình thành tổ chức chính trị đối lập; giải quyết vấn đề người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên vượt biên trái phép; phối hợp với cơ quan tình báo Thái Lan ngăn chặn số đối tượng phản động người Việt lưu vong nhập cảnh Thái Lan tiến hành các hoạt động tuyên truyền chống nhà nước ta; phối hợp với Malaysia ngăn chặn có hiệu quả các tổ chức phản động người Việt lưu vong tổ chức “Hội nghị về người lao động Việt Nam” tại Malaysia; phối hợp với đối tác Hàn Quốc tác động ngăn chặn không trao “Giải nhân quyền Gwangju” cho số đối tượng chống đối trong nước... Tiến hành các hình thức, biện pháp đấu tranh thích hợp, góp phần làm thất bại âm mưu, ý đồ hoạt động và ảo tưởng của một số đối tượng phản động trông chờ vào sự giúp sức, can thiệp từ bên ngoài.
Đã thiết lập quan hệ hợp tác với 28 nước về đấu tranh phòng, chống khủng bố, góp phần phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn nhiều âm mưu, hoạt động khủng bố của các thế lực thù địch, phản động; thông báo và đề nghị các tổ chức quốc tế, cơ quan An ninh, Tình báo, Cảnh sát các nước phối hợp đấu tranh với các tổ chức phản động lưu vong có hoạt động khủng bố; đấu tranh ngoại giao, bao vây, cô lập, đẩy đuổi không để số cầm đầu, cốt cán các tổ chức phản động lưu vong lợi dụng địa bàn các nước Thái Lan, Campuchia, Malaysia, Hàn Quốc... hoạt động chống phá Việt Nam. Qua đó, đã tiếp nhận danh sách số đối tượng khủng bố quốc tế do cơ quan An ninh, Tình báo, Cảnh sát các nước trao đổi; duy trì “đường dây nóng” phòng, chống khủng bố với nhiều đại sứ quán các nước tại Việt Nam; tổ chức điều tra, xác minh đối tượng, vụ việc nghi liên quan khủng bố tại Việt Nam; cung cấp cho phía Mỹ, Hàn Quốc nhiều tài liệu, chứng cứ liên quan đến hoạt động khủng bố của các tổ chức phản động người Việt lưu vong với danh xưng “Chính phủ Việt Nam tự do”, “Việt Tân”, “Ủy ban cứu người vượt biển”...
Quyết liệt triển khai, tạo được bước tiến đột phá trong thực hiện Đề án 05 về Công an nhân dân tham gia lực lượng Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc từ tháng 8/2022 đến nay, trong đó tham mưu thành lập Văn phòng thường trực Bộ Công an về Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; hoàn thiện thủ tục cử 22 cán bộ tham gia lực lượng phái bộ Gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc tại Mỹ và Nam Xu đăng. Đây là lần đầu tiên Bộ Công an có sĩ quan tham gia lực lượng Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, góp phần nâng cao hình ảnh, vị thế của Bộ Công an trên trường quốc tế; khẳng định đường lối, chính sách đối ngoại nhất quán và cam kết của Đảng, Nhà nước Việt Nam tích cực tham gia cùng Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trên thế giới.
Tám mươi năm vừa chiến đấu, vừa xây dựng và phát triển, mặc dù trải qua các giai đoạn lịch sử với tổ chức, bộ máy, tên gọi khác nhau, tuy nhiên chức năng, nhiệm vụ của lực lượng An ninh nhân dân không thay đổi. Lực lượng An ninh nhân dân đã khẳng định vai trò nòng cốt, xung kích trên mặt trận bảo vệ an ninh, trật tự; chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước những chủ trương, quyết sách có ý nghĩa chiến lược về bảo vệ an ninh quốc gia; phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.
Hàng ngàn gương điển hình tiên tiến của cá nhân và tập thể ở mọi lĩnh vực công tác, ở cơ quan Bộ cũng như địa phương được nhân rộng thành phong trào thi đua thiết thực. Đặc biệt là việc nghiên cứu, thấm nhuần sâu sắc và làm theo Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân đã trở thành phong trào có sức sống lâu bền nhất, thiết thực nhất trong lực lượng An ninh nhân dân. Do vậy, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ An ninh nhân dân luôn giữ vững phẩm chất cách mạng: Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; suốt đời phấn đấu, hy sinh vì độc lập, tự do, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, vì an ninh Tổ quốc; vì Nhân dân phục vụ, dựa vào Nhân dân để công tác và chiến đấu thắng lợi; có bản lĩnh chính trị vững vàng, mưu trí, dũng cảm trong đấu tranh chống tội phạm, giữ gìn an ninh, trật tự, tận trung trong công tác; đoàn kết, thống nhất, dân chủ, kỷ luật nghiêm minh, chủ động phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành, các lực lượng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ; không ngừng học tập nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, năng lực công tác; tiếp thu, vận dụng sáng tạo, hiệu quả thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ phục vụ công tác, chiến đấu; nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế.
Ghi nhận những thành tích xuất sắc của lực lượng An ninh nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự, Đảng, Nhà nước đã tặng thưởng nhiều danh hiệu, phần thưởng cao quý cho các tập thể, cá nhân thuộc lực lượng An ninh nhân dân: Huân chương Sao Vàng tặng lực lượng An ninh nhân dân (1996), Tổng cục An ninh (2006), Lực lượng Bảo vệ chính trị (2008), Học viện An ninh nhân dân (2011)…; Huân chương Hồ Chí Minh tặng Tổng cục An ninh (1985), Tổng cục An ninh I (2011), Tổng cục An ninh II (2011), Lực lượng Ngoại tuyến (2009), Lực lượng Điều tra (2011), Lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ (2009, 2010)…; nhiều tập thể được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân: Lực lượng An ninh nhân dân (2001), Tiểu ban Bảo vệ chính trị thuộc Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam (2005), Cục Kỹ thuật nghiệp vụ (1985, 2011, 2015), Cục Ngoại tuyến (2010, 2025), Cục An ninh kinh tế (2013), Cục An ninh chính trị nội bộ (2013), Cục Quản lý xuất nhập cảnh (2013), Tổng cục An ninh (2016), Cục An ninh Điều tra (2020), Cục An ninh đối ngoại (2025), Cục An ninh mạng (2025)…
Nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc gia trong giai đoạn cách mạng mới của đất nước, trách nhiệm của lực lượng An ninh nhân dân rất nặng nề nhưng vô cùng vinh quang. Với truyền thống 80 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, với những cống hiến, đóng góp của lực lượng An ninh nhân dân, với quyết tâm, bản lĩnh, trách nhiệm, ý chí, toàn lực lượng An ninh sẽ tận trung với Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân, cùng các lực lượng khác cung cấp sự bảo đảm vững chắc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV và các chủ trương chiến lược của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
(Còn tiếp ...)
Thực hiện: Quang Hùng