


Trong cuộc đua tăng trưởng, thời gian xử lý thủ tục có thể quyết định tốc độ triển khai một dự án, cũng như mức độ sẵn sàng rót vốn của doanh nghiệp. Với Hải Phòng, cải cách hành chính vì thế không chỉ là nhiệm vụ của bộ máy công quyền mà còn là giải pháp khơi thông nguồn lực cho phát triển.
Theo Kế hoạch số 386/KH-UBND ngày 30/9/2026, triển khai nhiệm vụ cải cách TTHC giai đoạn 2026-2030, thành phố đặt trọng tâm vào đơn giản hóa quy trình, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Định hướng xuyên suốt là chuyển từ kiểm soát thủ tục sang kiểm soát chi phí tuân thủ, từ kiểm soát hồ sơ sang quản lý dựa trên dữ liệu, đồng thời tăng cường hậu kiểm trên cơ sở rủi ro và mức độ tuân thủ.

Theo định hướng, thời gian giải quyết TTHC cần được cắt giảm mạnh. Những lĩnh vực liên quan trực tiếp đến tiến độ đầu tư như đất đai, quy hoạch, xây dựng cần được ưu tiên, đi cùng cơ chế “luồng xanh” cho các dự án trọng điểm.
Chuyển đổi số là một trụ cột của quá trình này. Hải Phòng đặt mục tiêu đến năm 2027, toàn bộ TTHC đủ điều kiện được cung cấp trực tuyến toàn trình, kết quả giải quyết được số hóa và có khả năng tái sử dụng dữ liệu. Về nguyên tắc, người dân, doanh nghiệp không phải cung cấp lại thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu được công bố, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành quy định khác.
Đến năm 2030, thành phố phấn đấu 100% dịch vụ công thiết yếu được tiếp nhận không phụ thuộc địa giới hành chính tại các Trung tâm Phục vụ hành chính công; mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đạt tối thiểu 95%. Việc đánh giá hoạt động công vụ cũng hướng tới dựa trên dữ liệu, gắn với trách nhiệm của cơ quan, đơn vị và người đứng đầu.

Nếu cải cách hành chính giúp giải phóng nguồn lực hiện có, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ quyết định khả năng tạo ra giá trị gia tăng mới của Hải Phòng.
Tính đến thời điểm hiện tại, Hải Phòng thuộc nhóm 4 địa phương dẫn đầu cả nước về tốc độ phát triển hạ tầng và chuyển đổi số, cùng Hà Nội, TP HCM và Huế. Ngoài ra, theo kết quả Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) năm 2026 do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố, Hải Phòng xếp thứ ba cả nước, đạt 56,33 điểm. Kết quả này phản ánh những lợi thế của thành phố trong xây dựng thể chế, phát triển thị trường và thúc đẩy các điều kiện phục vụ đổi mới sáng tạo.

Thời gian qua, thành phố đã xây dựng Cổng thông tin hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, phát triển mạng lưới hỗ trợ doanh nghiệp và tổ chức nhiều chương trình đào tạo, tập huấn. Các cơ chế đặc thù theo Nghị quyết số 226/2025/QH15 của Quốc hội cũng mở thêm dư địa để thu hút nhân lực chất lượng cao, huy động vốn đầu tư mạo hiểm và nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ mới.
Ông Nguyễn Cao Thắng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng cho biết, thành phố xác định doanh nghiệp là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, khoa học, công nghệ là nền tảng và dữ liệu là cơ sở cho quản trị hiện đại. Theo định hướng này, chính quyền, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức quốc tế cần được kết nối chặt chẽ hơn để đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh.


Vậy bài toán đặt ra là làm thế nào để những định hướng ấy tạo ra sản phẩm cụ thể? Trong năm 2026, ngoài việc hướng tới có ít nhất một sản phẩm khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo hoặc chuyển đổi số mang lại kết quả rõ ràng, Hải Phòng cũng tăng tốc hoàn thiện các hệ thống dùng chung, Trung tâm điều hành thông minh (IOC), phát triển hạ tầng 5G, băng rộng, đầu tư trung tâm dữ liệu và nghiên cứu trung tâm tính toán hiệu năng cao.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn trong quản trị cũng được kỳ vọng giúp nâng chất lượng điều hành, tối ưu nguồn lực và hỗ trợ doanh nghiệp ra quyết định. Tuy nhiên, hiệu quả không nằm ở số lượng nền tảng hay công nghệ được triển khai, mà ở khả năng giải quyết những vấn đề thực tế, từ rút ngắn quy trình đến nâng hiệu suất sản xuất.

Đến năm 2030, Hải Phòng đặt mục tiêu kinh tế số đóng góp trên 35% GRDP, có tối thiểu 150 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt 2% GRDP. Thành phố cũng hướng tới lọt nhóm 200 thành phố đổi mới sáng tạo toàn cầu.
Để đạt các mục tiêu này, bên cạnh hạ tầng công nghệ, Hải Phòng cần tiếp tục tháo gỡ rào cản về vốn, nhân lực và cơ chế thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Việc khuyến khích hình thành doanh nghiệp khởi nguồn từ trường đại học, cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp lớn có thể tạo thêm con đường đưa tri thức vào thị trường.
Khi doanh nghiệp thực sự trở thành chủ thể đầu tư cho đổi mới sáng tạo, công nghệ mới không chỉ dừng ở các dự án trình diễn mà có thể lan tỏa vào chuỗi sản xuất, logistics, dịch vụ cảng biển và quản trị đô thị. Đây là nền tảng để Hải Phòng nâng chất lượng tăng trưởng thay vì chỉ dựa vào mở rộng quy mô đầu tư.

Một động lực tăng trưởng bền vững không thể thiếu nguồn nhân lực ổn định. Với thành phố công nghiệp, cảng biển và logistics như Hải Phòng, nhà ở cho công nhân, người lao động không chỉ là vấn đề an sinh mà còn tác động trực tiếp đến khả năng thu hút, giữ chân lao động và duy trì hoạt động sản xuất.
Thông tin từ Sở Xây dựng, từ năm 2021 đến nay, Hải Phòng đã và đang triển khai 29 dự án NOXH dành cho công nhân và người thu nhập thấp, với quy mô khoảng 34.142 căn. Trong đó, 5.904 căn hoàn thành giai đoạn 2021-2024 và 10.775 căn hoàn thành trong năm 2025, vượt chỉ tiêu 10.694 căn được Chính phủ giao cho năm này.

Tính chung các dự án đã, đang và dự kiến triển khai, thành phố có 67 dự án NOXH với tổng quy mô khoảng 85.002 căn. Trong số đó, khoảng 60.359 căn dự kiến hoàn thành giai đoạn 2021-2030, tương đương 122% chỉ tiêu 49.400 căn Chính phủ giao cho cả giai đoạn.
Theo ông Nguyễn Hoài Long, Phó Giám đốc Sở Xây dựng thành phố, dù được kỳ vọng bổ sung chỗ ở cho người lao động, đồng thời giảm áp lực lên thị trường nhà trọ tự phát, tuy nhiên, tiến độ các dự án thực hiện vẫn chịu sức ép từ thủ tục điều chỉnh quy hoạch, chủ trương đầu tư và việc lựa chọn nhà đầu tư tại các quỹ đất 20% dành cho NOXH trong dự án thương mại.


Bên cạnh số lượng căn hộ, cơ cấu sản phẩm cũng là vấn đề cần giải quyết. Thị trường hiện chủ yếu tập trung vào nhà ở để bán, trong khi nguồn cung cho thuê dài hạn với mức giá phù hợp còn thiếu. Theo rà soát, nhu cầu thuê nhà giai đoạn 2026-2030 ước khoảng 20.000 căn, chủ yếu đến từ công nhân, người lao động tại KCN, các hộ phải di dời khỏi chung cư cũ nguy hiểm và một số nhóm đối tượng khác.
Điều này đòi hỏi thành phố không chỉ thúc đẩy các dự án NOXH độc lập mà còn ưu tiên quỹ đất tại KCN, khu kinh tế và các vùng phát triển trọng điểm. Việc phát triển nhà lưu trú công nhân, dành một phần quỹ căn hộ cho thuê trong các dự án mới, huy động nguồn lực tư nhân và nghiên cứu sử dụng Quỹ nhà ở địa phương là những hướng đi cần được tính toán đồng bộ.
