

Hà Nội có lợi thế lớn về nguồn lực tri thức, với hệ thống trường đại học, viện nghiên cứu và đội ngũ chuyên gia tập trung đông đảo. Tuy nhiên, việc phát huy lợi thế này đòi hỏi thành phố phải giải quyết bài toán kết nối giữa đào tạo, nghiên cứu và nhu cầu phát triển thực tế. Đội ngũ khoa học không chỉ cần đủ về số lượng, mà còn phải có năng lực làm chủ công nghệ, giải quyết những vấn đề liên ngành và tạo ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu của đời sống kinh tế - xã hội.
Theo Kế hoạch hành động số 20-KH/BCĐ57 ngày 19/1/2026 của Ban Chỉ đạo 57 Thành ủy, Hà Nội đặt mục tiêu đào tạo 1.000 nghiên cứu sinh giai đoạn 2026–2030. Riêng năm 2026, thành phố dự kiến hỗ trợ khoảng 100 nghiên cứu sinh, hướng đề tài vào những bài toán lớn, điểm nghẽn trong phát triển Thủ đô.



Điểm đáng chú ý là chương trình không chỉ hỗ trợ người học hoàn thành chương trình tiến sĩ, mà còn yêu cầu đề tài nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tiễn. Hồ sơ cần xác định rõ mục tiêu, sản phẩm dự kiến, chỉ tiêu có thể kiểm chứng và khả năng ứng dụng, chuyển giao; đồng thời làm rõ cơ quan, tổ chức hoặc doanh nghiệp có thể phối hợp, tiếp nhận kết quả.
Cách tiếp cận này giúp hoạt động đào tạo tiến sĩ gắn với nhu cầu phát triển ngay từ đầu, thay vì đợi đến khi hoàn thành luận án mới tìm địa chỉ ứng dụng. Danh mục 30 bài toán lớn của thành phố giai đoạn 2026-2030, được công bố tại Quyết định số 1193/QĐ-UBND ngày 18/3/2026, là căn cứ quan trọng để định hướng nguồn lực nghiên cứu.
Các vấn đề được đặt ra trải rộng từ kinh tế tuần hoàn, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, chống ngập úng, an toàn thực phẩm, phát triển hạ tầng đô thị thông minh đến nâng cao năng suất lao động, chuyển đổi số doanh nghiệp nhỏ và vừa, logistics, du lịch thông minh và phát triển công nghiệp văn hóa.

Đây đều là những lĩnh vực cần sự phối hợp của nhiều ngành khoa học. Chống ngập đô thị không chỉ đòi hỏi giải pháp về hạ tầng, quy hoạch và môi trường, mà còn liên quan đến dữ liệu, quản trị và tổ chức thực hiện. Phát triển công nghiệp văn hóa cần kết nối công nghệ số với nghiên cứu di sản, quản lý văn hóa và thị trường sáng tạo. Điều đó mở ra cơ hội để các cơ sở đào tạo huy động chuyên gia liên ngành, đưa nghiên cứu sinh tiếp cận dữ liệu, hiện trường và nhu cầu của đơn vị sử dụng.
Tại Đại học Quốc gia Hà Nội, sáu đơn vị đã đăng ký 65 nghiên cứu sinh tham gia xét hưởng chính sách hỗ trợ đào tạo tiến sĩ của thành phố. Riêng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đăng ký 15 nghiên cứu sinh. Các đề xuất được xây dựng theo thế mạnh của từng cơ sở đào tạo, phát huy vai trò của người hướng dẫn, nhóm nghiên cứu mạnh và chuyên gia đầu ngành.

Theo PGS.TS Đặng Hồng Sơn, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, chương trình không chỉ hướng tới việc giúp nghiên cứu sinh hoàn thành quá trình học tập, đạt học vị tiến sĩ, mà còn gắn nghiên cứu với những vấn đề thực tiễn của Hà Nội. Trước mắt, nhà trường ưu tiên ba nhóm vấn đề gồm ô nhiễm môi trường, ngập lụt đô thị và công nghiệp văn hóa.
Việc huy động nguồn lực từ các trường đại học vì thế không chỉ nhằm tăng số lượng người có trình độ cao, mà còn phát huy thế mạnh nghiên cứu của từng đơn vị, tạo điều kiện để tri thức khoa học tham gia trực tiếp vào quá trình giải quyết những vấn đề của thành phố.

Để mục tiêu đào tạo 1.000 nghiên cứu sinh không dừng ở chỉ tiêu số lượng, Hà Nội cần một hệ thống chính sách xuyên suốt từ lựa chọn người học, hỗ trợ nghiên cứu đến tiếp nhận và sử dụng kết quả sau đào tạo.
Ngày 15/6/2026, HĐND thành phố ban hành Nghị quyết số 57/2026/NQ-HĐND về một số chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của thành phố Hà Nội. Tiếp đó, ngày 14/7/2026, UBND thành phố ban hành Kế hoạch số 276/KH-UBND để tổ chức triển khai. Đây là cơ sở chính sách quan trọng cho chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh gắn với bài toán lớn của Thủ đô.
Tuy nhiên, hỗ trợ kinh phí mới là một phần của quá trình phát triển nhân lực. Nghiên cứu sinh cần được tiếp cận phòng thí nghiệm, dữ liệu, chuyên gia và môi trường thử nghiệm; đồng thời có cơ hội hợp tác với các đơn vị đang trực tiếp giải quyết vấn đề thực tiễn. Với những đề tài liên ngành, cơ chế phối hợp và chia sẻ nguồn lực giữa các cơ sở nghiên cứu càng có ý nghĩa quan trọng.

GS.TS Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội, nhấn mạnh rằng muốn làm chủ công nghệ, nghiên cứu phải gắn với doanh nghiệp và thị trường. Nhiều bài toán lớn của Hà Nội không thể giải quyết chỉ bằng một luận án tiến sĩ hay một trường đại học riêng lẻ, mà cần sự phối hợp giữa cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
Thực tế tại Trường Đại học Công nghệ cho thấy, thông qua các hợp đồng nghiên cứu với doanh nghiệp, nhà trường đã thực hiện miễn học phí và cấp học bổng cho nghiên cứu sinh. Kinh nghiệm này gợi mở khả năng huy động nguồn lực ngoài ngân sách, đồng thời giúp hoạt động nghiên cứu bám sát nhu cầu của đơn vị sử dụng.
Ở cấp độ thành phố, Sở KHCN được giao làm đầu mối tham mưu, theo dõi, điều phối việc triển khai Danh mục các bài toán lớn; tổ chức hệ thống theo dõi, đánh giá tiến độ và kết quả, định kỳ tổng hợp, báo cáo UBND thành phố. Cơ chế này giúp kết nối các nhiệm vụ nghiên cứu với mục tiêu phát triển chung, đồng thời nhận diện những vấn đề cần bổ sung nguồn lực hoặc tăng cường phối hợp.

Việc đổi mới cơ chế quản lý cũng là điều kiện để đẩy nhanh quá trình triển khai. Hiện thời gian phê duyệt nhiệm vụ KHCN có thể được rút ngắn từ khoảng một năm xuống còn 55 ngày; cơ chế khoán chi và xử lý phần kinh phí tiết kiệm khi hoàn thành nhiệm vụ cũng được đặt ra nhằm tăng tính chủ động cho đơn vị thực hiện. Những thay đổi này được kỳ vọng giúp hoạt động nghiên cứu giảm bớt độ trễ thủ tục, tăng khả năng đáp ứng nhu cầu thực tế.
Tại hội nghị tổng kết chương trình phối hợp giai đoạn 2023-2026 và ký kết chương trình phối hợp giai đoạn 2026-2031 giữa Thành ủy Hà Nội với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ngày 15/10, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng nhấn mạnh yêu cầu tập trung nghiên cứu các bài toán thành phố đặt ra ngay từ đầu nhiệm kỳ, đưa kết quả nghiên cứu thành giải pháp tháo gỡ khó khăn trong từng ngành, lĩnh vực và địa phương.

PGS.TS Đoàn Minh Huấn, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, cũng nhấn mạnh mỗi sản phẩm nghiên cứu cần cung cấp luận cứ khoa học xác đáng, giải pháp khả thi, có địa chỉ sử dụng rõ ràng và khả năng ứng dụng thực tế. Theo ông, cần tổng kết nhanh thực tiễn để kịp thời tham mưu quyết định, chính sách, chuyển những quan điểm lý luận thành cơ chế hành động.
Những định hướng này cho thấy phát triển nhân lực KHCN không thể tách rời yêu cầu sử dụng sau đào tạo. Bên cạnh các ngành công nghệ, Hà Nội cần những nhà khoa học xã hội, chuyên gia quản lý và đội ngũ có khả năng tổng kết thực tiễn, đánh giá tác động chính sách, xây dựng mô hình quản trị phù hợp với đặc thù đô thị. Khi có nhu cầu rõ ràng và môi trường làm việc phù hợp, nguồn nhân lực được đầu tư mới có thể phát huy đầy đủ giá trị.

Một trong những thay đổi đáng chú ý trong cách tiếp cận của Hà Nội là chuyển hoạt động đặt hàng KHCN từ đề xuất nghiên cứu đơn thuần sang giải quyết những vấn đề cụ thể của sản xuất, kinh doanh và đời sống.
Ngày 25/9, Sở KHCN Hà Nội tổ chức phiên đặt hàng nhiệm vụ KHCN và đổi mới sáng tạo từ nhu cầu doanh nghiệp. Hoạt động nhằm kết nối trực tiếp nhu cầu thực tế với năng lực nghiên cứu, đồng thời đối chiếu đề xuất với Danh mục 30 bài toán lớn của thành phố.
Để cách làm này phát huy hiệu quả, mỗi nhiệm vụ cần xác định rõ sản phẩm đầu ra, đơn vị tiếp nhận và tiêu chí đánh giá. Với nghiên cứu công nghệ, sản phẩm có thể là giải pháp kỹ thuật, thiết bị, phần mềm, mô hình thử nghiệm hoặc quy trình có khả năng triển khai. Với khoa học xã hội và nhân văn, kết quả có thể là cơ sở dữ liệu, mô hình quản trị, phương pháp đánh giá hay luận cứ phục vụ xây dựng chính sách. Không phải nghiên cứu nào cũng có thể thương mại hóa ngay, nhưng cần có cách kiểm chứng phù hợp với mục tiêu và đặc thù lĩnh vực.

Kế hoạch số 370/KH-UBND ngày 28/9/2026 về KHCN đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026–2030 đặt ra các mục tiêu cụ thể về phát triển nhân lực nghiên cứu, tăng cường công bố khoa học, sáng chế và chuyển giao kết quả nghiên cứu từ viện, trường cho doanh nghiệp. Trong đó, thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt 14 nhân lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ quy đổi toàn thời gian trên 10.000 dân; đồng thời phấn đấu tối thiểu 30% kết quả nghiên cứu từ viện, trường được chuyển giao thành công cho doanh nghiệp và thương mại hóa.
Các chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả đầu tư nhân lực cần được nhìn trên nhiều phương diện: chất lượng nghiên cứu, năng lực làm chủ công nghệ, mức độ ứng dụng và tác động đối với phát triển kinh tế - xã hội. Số lượng tiến sĩ hay đề tài được hỗ trợ mới phản ánh đầu vào; giá trị lâu dài phải thể hiện qua khả năng giải quyết vấn đề, tạo ra tri thức mới và đóng góp cho các lĩnh vực ưu tiên.

Vì vậy, Hà Nội cần theo dõi quá trình triển khai sau khi nhiệm vụ kết thúc, không chỉ dừng ở nghiệm thu báo cáo. Cơ quan sử dụng cần phản hồi về khả năng áp dụng; doanh nghiệp tham gia đánh giá tính khả thi, chi phí và hiệu quả; cơ sở đào tạo tiếp tục phát triển nhóm nghiên cứu từ kết quả đã có. Với những giải pháp có tiềm năng, việc bố trí môi trường thử nghiệm và nguồn lực hoàn thiện công nghệ sẽ giúp rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng.
Từ mục tiêu đào tạo 1.000 nghiên cứu sinh đến việc tổ chức đặt hàng theo 30 bài toán lớn, Hà Nội đang từng bước chuyển từ cách tiếp cận phát triển nhân lực chung sang phát triển nhân lực theo lĩnh vực ưu tiên và nhu cầu ứng dụng. Nếu chính sách được thực hiện đồng bộ, sự kết nối giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp sẽ giúp tri thức được huy động đúng địa chỉ, nghiên cứu được định hướng rõ hơn và nguồn nhân lực chất lượng cao có cơ hội phát huy năng lực. Khi hiệu quả được đo bằng cả chất lượng khoa học lẫn giá trị đóng góp cho thực tiễn, đào tạo nhân lực KHCN sẽ trở thành một phần thiết thực trong chiến lược phát triển Thủ đô.
--------------
Thực hiện: Minh Quang - Thu Hương - Huyền Trang