


Như đã nêu ở những bài trước, từ những "điểm nghẽn" được nhìn từ góc độ người dân, hợp tác xã (HTX) và cơ quan quản lý, thì ở thời điểm này, điều được các địa phương quan tâm hơn cả là làm thế nào để những khó khăn ấy sớm được tháo gỡ, đưa chính sách đi vào cuộc sống.
Tại nhiều vùng nuôi biển của Quảng Ninh, từ Cẩm Phả, Hà An đến Đầm Hà, Quảng Hà, các kiến nghị được gửi lên cơ quan chức năng tuy khác nhau về cách tiếp cận nhưng đều gặp nhau ở một mong muốn chung: Thủ tục cần đơn giản hơn, quy định cần rõ ràng hơn và quá trình thực hiện cần thống nhất hơn để người dân, doanh nghiệp sớm ổn định sản xuất.
Ông Hoàng Văn Cường, Phó Trưởng phòng Nông nghiệp và Môi trường phường Cẩm Phả kiến nghị: Qua thực tế công tác nhiều năm tại địa phương, tôi kiến nghị, đối với những hộ gia đình, cá nhân chỉ sử dụng diện tích nhỏ dưới 5ha để nuôi trồng thủy sản, nên nghiên cứu áp dụng cơ chế quản lý phù hợp với quy mô sản xuất thực tế. Thay vì yêu cầu thực hiện đầy đủ các thủ tục như một dự án đầu tư của doanh nghiệp, các hộ dân có thể được lập phương án sản xuất đơn giản, kèm theo cam kết bảo vệ môi trường và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo quy định.
Theo ông Cường, cách tiếp cận này vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa phù hợp với năng lực của các hộ nuôi nhỏ lẻ - lực lượng đang chiếm tỷ lệ lớn trong hoạt động nuôi biển hiện nay, đồng thời góp phần tạo sinh kế cho những hộ nuôi biển.

Từ góc độ địa phương, ông Phạm Huy Hùng, Trưởng Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường Hà An cho rằng, nhiều HTX trên địa bàn phường Hà An được hình thành từ chính những hộ dân đã chấp hành chủ trương di dời vùng nuôi, chuyển đổi vật liệu nổi và bố trí lại sản xuất theo quy hoạch của địa phương. Các HTX đã được xác nhận sơ đồ, vị trí từ trước và từng bước hoàn thiện hồ sơ theo hướng dẫn của các cơ quan chức năng. Tuy nhiên, trong quá trình hoàn thiện thủ tục, hệ thống quy định tiếp tục có những thay đổi khiến nhiều hồ sơ chưa thể hoàn tất theo kế hoạch. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến tiến độ giao khu vực biển mà còn khiến địa phương gặp khó khăn trong việc quản lý vùng nuôi và ổn định sản xuất cho người dân.
"Chúng tôi mong muốn những trường hợp đã được địa phương xác nhận vị trí, đã thực hiện đúng chủ trương sắp xếp vùng nuôi và đang trực tiếp sản xuất cần được xem xét trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng, bảo đảm sinh kế cho người dân địa phương, tránh phát sinh những tranh chấp không đáng có", ông Hùng chia sẻ.
Không chỉ chính quyền cơ sở, các HTX và người dân cũng có chung quan điểm rằng việc đơn giản hóa quy trình thủ tục là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
Là người đã có nhiều năm gắn bó với nghề nuôi biển, anh Nguyễn Văn Tiến, đang nuôi thủy sản ở khu vực Hòn Ông Cụ (phường Cẩm Phả) cho biết, điều khiến các hộ nuôi nhỏ lẻ lo lắng nhất không phải là nghĩa vụ tài chính hay việc tuân thủ các quy định của Nhà nước, mà là các thủ tục ngày càng phức tạp, vượt quá khả năng tự thực hiện của phần lớn người dân. Theo anh Tiến, chỉ riêng việc thuê đơn vị tư vấn khảo sát, xác định tọa độ và lập hồ sơ kỹ thuật cũng đã phát sinh thêm nhiều chi phí. Trong khi đó, những yêu cầu về dự án đầu tư, hồ sơ chứng minh năng lực tài chính hay các thủ tục liên quan đến chủ trương đầu tư là điều mà hầu hết các hộ nuôi nhỏ lẻ đều rất lúng túng.

Cùng với những kiến nghị từ cơ sở, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ninh cũng đang phối hợp với các sở, ngành liên quan tiếp tục hướng dẫn, hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ chấp thuận chủ trương đầu tư, đồng thời kiến nghị các bộ, ngành Trung ương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số quy định còn bất cập nhằm rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục giao khu vực biển.
Có thể thấy, từ người dân, HTX đến chính quyền địa phương và cơ quan chuyên môn đều đã thống nhất ở một điểm: Điều cần thiết lúc này không phải là nới lỏng quản lý, mà là hoàn thiện cơ chế để việc quản lý trở nên hiệu quả hơn, minh bạch hơn và phù hợp hơn với thực tiễn sản xuất.

Từ thực tiễn Quảng Ninh, những vướng mắc trong giao khu vực biển không chỉ dừng lại ở việc giải quyết những hồ sơ còn tồn đọng. Quá trình triển khai cũng cho thấy một số vấn đề cần tiếp tục được rà soát trong tổ chức thực hiện chính sách, từ sự thống nhất giữa các quy định, trình tự, thủ tục đến việc xử lý những trường hợp chịu tác động khi chính sách thay đổi. Đây cũng là những nội dung được địa phương kiến nghị trong quá trình thực hiện giao khu vực biển.

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững. Cùng với đó là yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, tăng cường phân cấp, phân quyền và phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư nhân. Đây là cơ sở để các địa phương tổ chức triển khai các chính sách phát triển kinh tế biển phù hợp với điều kiện thực tế.
Thực tiễn cũng cho thấy, khi hệ thống pháp luật được sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu quản lý trong từng giai đoạn thì quá trình tổ chức thực hiện cũng cần được điều chỉnh tương ứng. Bên cạnh các quy định mới, việc bảo đảm sự thống nhất trong hướng dẫn, sự đồng bộ giữa các quy định và cơ chế xử lý đối với những trường hợp đang thực hiện theo quy định trước đó cũng có ý nghĩa quan trọng. Nếu những nội dung này chưa được giải quyết kịp thời, việc triển khai trên thực tế có thể gặp khó khăn, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện.

Từ câu chuyện giao khu vực biển ở Quảng Ninh có thể thấy, điều người dân và doanh nghiệp mong muốn không phải là nới lỏng quản lý hay có những ngoại lệ trong thực thi pháp luật. Điều họ cần là một quy trình rõ ràng, ổn định và có tính khả thi để yên tâm đầu tư lâu dài. Đối với nuôi biển, mỗi quyết định đầu tư đều gắn với chu kỳ sản xuất nhiều năm, nguồn vốn lớn và nhiều rủi ro từ thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường. Khi các quy định được thực hiện thống nhất, người dân sẽ yên tâm đầu tư, doanh nghiệp có cơ sở để mở rộng sản xuất, còn cơ quan quản lý cũng thuận lợi hơn trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển.
Để một chính sách phát huy hiệu quả không chỉ cần những quy định đầy đủ mà còn cần quá trình tổ chức thực hiện thống nhất, kịp thời và phù hợp với thực tiễn. Khi những vướng mắc trong quá trình thực hiện được tháo gỡ, chính sách mới có điều kiện đi vào cuộc sống, tạo sự yên tâm cho người dân, doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Nghị quyết 36-NQ/TW (ngày 22/10/2018) đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển, góp phần quan trọng vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việc tháo gỡ những “điểm nghẽn” nhằm kiến tạo thêm những điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển nói chung, ngành nuôi trồng thủy sản nói riêng sẽ góp phần đẩy nhanh tiến trình hiện thực hóa những chủ trương của Đảng, Nhà nước trên tiến trình bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
