
“Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng”, “toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”… Những câu chữ trong Tuyên ngôn Độc lập ghi lại ý chí của một dân tộc đã đứng lên giành quyền làm chủ vận mệnh của mình. Đằng sau thời khắc lịch sử ấy là sức mạnh của lòng dân khi được quy tụ vào lợi ích tối cao của Tổ quốc. Đó cũng là một biểu hiện sâu sắc của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, giá trị xuyên suốt trong lịch sử cách mạng Việt Nam.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của một quá trình lâu dài chuẩn bị lực lượng, xây dựng phong trào, tập hợp và giác ngộ quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Khi thời cơ lịch sử xuất hiện, sức mạnh ấy được phát huy trên quy mô cả nước, tạo nên cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Công nhân, nông dân, trí thức, thanh niên, phụ nữ, đồng bào các dân tộc, đồng bào các tôn giáo và những người yêu nước thuộc nhiều tầng lớp xã hội cùng hướng về mục tiêu tối cao: độc lập dân tộc.
Sức mạnh ấy không tự nhiên mà có. Đó là kết quả của quá trình vận động, tập hợp, tổ chức lực lượng cách mạng; của việc xác định đúng lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc; của việc quy tụ những con người khác nhau vào một mục tiêu chung.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết thành một chân lý: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Với Người, đại đoàn kết trước hết là tập hợp Nhân dân, lấy Nhân dân làm gốc, quy tụ sức dân thành lực lượng cách mạng. Người chỉ rõ: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số Nhân dân… Đó là nền gốc của đại đoàn kết".
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám vì thế là thắng lợi của đường lối đúng đắn, của nghệ thuật lãnh đạo, nắm bắt thời cơ và tổ chức lực lượng; đồng thời là thắng lợi của sức mạnh Nhân dân khi được tập hợp, giác ngộ và tổ chức dưới ngọn cờ cách mạng.

Sức mạnh ấy tiếp tục được phát huy trong các cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập, thống nhất Tổ quốc. Tiền tuyến với hậu phương. Quân đội với Nhân dân. Các vùng miền, dân tộc, tôn giáo, các tầng lớp xã hội cùng chung ý chí. Hàng triệu con người, mỗi người một vị trí, một công việc, cùng hướng về một mục tiêu: bảo vệ Tổ quốc, thống nhất non sông.
Sau ngày đất nước thống nhất, sức mạnh ấy tiếp tục được phát huy trong hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế và tiến hành công cuộc Đổi mới. Hơn bốn thập niên qua, từ những gian khó của thời hậu chiến đến công cuộc Đổi mới, thực tiễn tiếp tục khẳng định: khi ý Đảng hợp với lòng dân, sức dân được khơi dậy, các nguồn lực được quy tụ thì đất nước có thêm động lực để vượt qua khó khăn và phát triển.

Lịch sử cách mạng Việt Nam ghi dấu những thời điểm sức mạnh dân tộc được khơi dậy mạnh mẽ từ lòng dân, được quy tụ trong những mục tiêu chung và phát huy qua sự hội tụ các nguồn lực của đất nước.
Đảng ta xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là cội nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: “Đảng luôn xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là truyền thống vô cùng quý báu, là cội nguồn sức mạnh của dân tộc, của cách mạng, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.”
Nhận thức ấy được Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định và phát triển: sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chính là sức mạnh quốc gia; Nhân dân là chủ thể, là trung tâm, là mục tiêu và động lực của sự phát triển.
Đây là điểm có ý nghĩa đặc biệt trong yêu cầu phát triển đất nước hiện nay. Đại đoàn kết không chỉ là phương thức tập hợp lực lượng, mà phải trở thành cách thức khơi dậy, phát huy và chuyển hóa nguồn lực trong Nhân dân thành nguồn lực phát triển quốc gia.
Lấy Nhân dân làm gốc phải trở thành nguyên tắc trong hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chính sách. Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân phải đi cùng kỷ cương, trách nhiệm và đồng thuận xã hội. Mọi tiềm năng, trí tuệ, nguồn lực và sức sáng tạo trong Nhân dân phải được khơi thông, phát huy và chuyển hóa thành động lực phát triển.

Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, nhấn mạnh: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc ta, là đường lối chiến lược, “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta; là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.”
Trong kỷ nguyên mới, yêu cầu đặt ra là tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; làm nòng cốt để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ; tập hợp, phát huy mọi nguồn lực, năng lực sáng tạo của Nhân dân và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Từ đó, yêu cầu đối với Mặt trận cũng rõ hơn: phải gần dân, sát dân, nắm được lòng dân, tập hợp được sức dân và phản ánh được tiếng nói của Nhân dân. Đồng thuận không chỉ dừng ở nhận thức, mà phải trở thành hành động, thành nguồn lực, thành kết quả phát triển.
Đại đoàn kết trong kỷ nguyên mới phải hướng tới mục tiêu khơi dậy và phát huy cao nhất sức mạnh của Nhân dân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo nền tảng thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Đại đoàn kết không chỉ được tạo nên bằng tổ chức và hành động; còn cần được nuôi dưỡng bằng thông tin, bằng sự kết nối giữa ý Đảng, lòng dân và những vấn đề của đời sống. Trong dòng chảy ấy, báo chí cách mạng, đặc biệt là báo chí Mặt trận, đã có một vai trò riêng: kết nối, truyền tải và quy tụ những tiếng nói, nguyện vọng, sức mạnh của Nhân dân vào sự nghiệp chung của đất nước.
Trong những ngày đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, báo chí cách mạng đã sớm ghi lại diện mạo của một Nhà nước mới và ý chí của cả dân tộc trước vận mệnh đất nước. Ngày 5/9/1945, chỉ ít ngày sau Lễ Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Báo Cứu Quốc đăng toàn văn Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cùng với bản Tuyên ngôn là lời tuyên thệ của Chính phủ lâm thời và Lời thề của Quốc dân, những văn kiện ghi lại ý chí của chính quyền cách mạng và toàn dân trong việc giữ vững nền độc lập, xây dựng chính quyền mới và bắt tay vào công cuộc kiến quốc.

Báo chí cách mạng đã thực hiện vai trò kết nối những nhiệm vụ lớn của đất nước với đời sống của Nhân dân. Những dòng người từ khắp các nẻo đường đổ về Quảng trường Ba Đình; công nhân, viên chức, các bô lão, phụ nữ, thanh niên, nhi đồng cùng hiện diện trong ngày Độc lập. Sau lời Tuyên ngôn là lời tuyên thệ của Chính phủ, lời thề của Quốc dân và lời kêu gọi đồng bào thống nhất, đoàn kết, ủng hộ Chính phủ để thực hiện công cuộc kiến quốc.
Từ những ngày hoạt động bí mật, Báo Cứu Quốc tuyên truyền đường lối cách mạng, khơi dậy tinh thần yêu nước, vận động quần chúng tham gia các đoàn thể cứu quốc. Đến Tổng khởi nghĩa, báo phát hành số đặc biệt hiệu triệu toàn dân đứng lên giành chính quyền. Khi chính quyền cách mạng ra đời, Cứu Quốc tiếp tục truyền tải chủ trương, định hướng dư luận, củng cố niềm tin của Nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng báo chí như một phương tiện quan trọng để nói với Nhân dân, với cán bộ và với toàn xã hội. Trên Báo Cứu Quốc, Người viết về xây dựng chính quyền, chống giặc đói, giặc dốt, về kháng chiến, kiến quốc và về sức mạnh đoàn kết của đồng bào.
Từ Cứu Quốc đến Giải Phóng, rồi Đại đoàn kết, báo chí của Mặt trận tiếp tục đồng hành cùng những chặng đường lớn của cách mạng và đất nước. Qua mỗi thời kỳ, nhiệm vụ và phương thức hoạt động có những thay đổi, nhưng sự gắn bó với Nhân dân, truyền tải chủ trương và phản ánh tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân vẫn là yêu cầu xuyên suốt.
Hôm nay, yêu cầu ấy được đặt trong một không gian và điều kiện mới. Là cơ quan ngôn luận của MTTQ Việt Nam, Báo Đại đoàn kết cần phát huy tốt hơn vai trò kết nối giữa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động của Mặt trận với đời sống Nhân dân; đồng thời phản ánh tiếng nói, tâm tư, nguyện vọng và những kiến nghị chính đáng của Nhân dân, góp phần đưa những vấn đề từ thực tiễn vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách. Hai chiều thông tin ấy gặp nhau ở đời sống thực tiễn, ở sự đồng thuận xã hội và trên hết là lợi ích quốc gia - dân tộc, mục tiêu vì Nhân dân.
Muốn thực hiện tốt vai trò ấy, báo chí Mặt trận trước hết phải bắt đầu từ đời sống: gần dân, sát cơ sở, lắng nghe và phản ánh đúng những vấn đề đang đặt ra từ thực tiễn, những tâm tư, kiến nghị chính đáng của Nhân dân. Từ đó, báo chí không chỉ là nơi phản ánh đời sống mà còn là diễn đàn để Nhân dân tham gia giám sát, phản biện xã hội; lan tỏa những giá trị tốt đẹp, đồng thời góp phần nhận diện và đấu tranh với thông tin sai lệch, những biểu hiện gây chia rẽ, làm tổn hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc và quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.
Trong không gian truyền thông số, yêu cầu ấy càng cao. Thông tin phải nhanh, nhưng chính xác phải được đặt lên trước. Chính luận phải có chiều sâu. Tiếng nói phải có trách nhiệm. Đổi mới cách làm nhưng không được xa rời tôn chỉ, mục đích; hiện đại hóa phương thức nhưng phải giữ vững bản lĩnh chính trị. Yêu cầu ấy đặt báo chí Mặt trận hôm nay trong một dòng chảy đã được bồi đắp qua nhiều chặng đường lịch sử.
Từ những trang Cứu Quốc đầu tiên đến hôm nay, báo chí Mặt trận luôn gắn bó với những nhiệm vụ lớn của đất nước, đồng hành cùng Nhân dân, góp phần đưa chủ trương đến với cuộc sống và phản ánh tiếng nói từ cuộc sống. Mỗi thời kỳ có một hoàn cảnh, một nhiệm vụ riêng, nhưng sự gắn bó với Nhân dân và trách nhiệm góp phần tạo dựng đồng thuận vẫn là mạch xuyên suốt.
Lịch sử đã cho thấy, khi lòng dân hội tụ, sức nước được nhân lên. Hôm nay, trong kỷ nguyên mới, quy tụ được lòng dân, phát huy được trí tuệ, nguồn lực và sức sáng tạo trong Nhân dân chính là góp phần làm nên sức mạnh quốc gia. Đó cũng là sứ mệnh mà Mặt trận và báo chí Mặt trận phải tiếp tục thực hiện: để sức mạnh của đại đoàn kết không chỉ làm nên lịch sử, mà còn trở thành nguồn lực kiến tạo tương lai.