logo

eMagazine

Kiến tạo tương lai trên nền tảng văn hóa và động lực khoa học - công nghệ

Bước vào giai đoạn phát triển mới, khi thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt và những chuẩn mực phát triển truyền thống đang bị thách thức, vấn đề không còn là Việt Nam có phát triển hay không, mà là phát triển theo con đường nào, bằng động lực gì và trên nền tảng nào. Những lựa chọn ấy không chỉ quyết định tốc độ tăng trưởng trước mắt, mà định hình chiều sâu phát triển, bản lĩnh quốc gia và vị thế đất nước trong nhiều thập niên tới.

Thực tiễn cho thấy, không một quốc gia nào có thể bứt phá nếu thiếu động lực của tri thức, khoa học và công nghệ; nhưng cũng không một dân tộc nào có thể phát triển bền vững nếu đánh mất nền tảng văn hóa và các giá trị làm nên cốt cách con người. Phát triển nhanh mà đứt gãy giá trị sẽ để lại những hệ lụy lâu dài; giữ gìn truyền thống mà không làm chủ động lực mới sẽ tự đánh mất cơ hội vươn lên. Giải bài toán phát triển trong kỷ nguyên mới vì thế đòi hỏi một tư duy lãnh đạo đủ tầm, đủ bản lĩnh để kết hợp hài hòa giữa động lực hiện đại và nền tảng bền vững.

Kiến tạo tương lai trên nền tảng văn hóa và động lực khoa học - công nghệ

Thế giới đang trong tiến trình xác lập trật tự mới với những chuyển biến nhanh, phức tạp chưa từng có, nổi bật là cạnh tranh giữa các nền văn hoá, trong đó có cạnh tranh giá trị và ảnh hưởng của công nghiệp văn hoá. Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, cùng với tác động của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ đang làm thay đổi căn bản các chuẩn mực ứng xử và hệ giá trị văn hoá, đặt ra nhu cầu cấp thiết về định vị quốc gia trong trật tự thế giới mới.

Trong bối cảnh đó, những quyết sách chiến lược gần đây của Đảng cho thấy một cách tiếp cận nhất quán và ngày càng hoàn chỉnh: xác lập khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt của tăng trưởng; đồng thời đặt văn hóa và con người vào vị trí trung tâm để dẫn dắt khát vọng phát triển và bảo đảm tính bền vững lâu dài. Hai định hướng lớn ấy không tồn tại song song, càng không tách rời, mà đan cài, nâng đỡ lẫn nhau, tạo nên một logic phát triển thống nhất, nơi động lực phát triển được dẫn dắt bởi giá trị, và nền tảng tinh thần được lan tỏa bằng sức mạnh của tri thức và sáng tạo.

Từ lựa chọn chiến lược ấy, con đường phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới đang dần hiện rõ: phát triển nhanh nhưng phải đi chắc; hiện đại nhưng không hòa tan; hội nhập sâu nhưng vẫn giữ vững bản sắc; lấy trí tuệ làm động lực, lấy văn hóa làm điểm tựa và lấy con người Việt Nam làm trung tâm của mọi chính sách phát triển.

Kiến tạo tương lai trên nền tảng văn hóa và động lực khoa học - công nghệ

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược toàn cầu ngày càng gay gắt, khi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã trở thành thước đo năng lực và vị thế quốc gia, yêu cầu đặt ra với Việt Nam không chỉ là theo kịp xu thế, mà là xác lập được động lực phát triển đủ mạnh để bứt phá và đi đường dài. Phát triển trong kỷ nguyên mới vì thế không còn là câu chuyện lựa chọn, mà là bài toán hành động có chiến lược, gắn với tầm nhìn dài hạn và năng lực tổ chức thực hiện của cả hệ thống chính trị.

Từ nhận thức đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã xác lập một định hướng mang tính căn bản: phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là trụ cột chiến lược của mô hình tăng trưởng mới. Nghị quyết không chỉ trả lời câu hỏi phát triển bằng gì, mà sâu xa hơn, xác định rõ Việt Nam sẽ dựa vào đâu để nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế trong trật tự phát triển mới.

Kiến tạo tương lai trên nền tảng văn hóa và động lực khoa học - công nghệ

Những mục tiêu cụ thể của Nghị quyết 57 cho thấy rõ tính toán chiến lược và tầm nhìn dài hạn. Đến năm 2030, kinh tế số phấn đấu chiếm tối thiểu 30% GDP; năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp trên 55% vào tăng trưởng; Việt Nam thuộc nhóm ba quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á về đổi mới sáng tạo. Tầm nhìn đến năm 2045 hướng tới mục tiêu cao hơn: trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, là trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực, có doanh nghiệp công nghệ số tầm cỡ toàn cầu. Đây là những chỉ dấu cho thấy khoa học và công nghệ không còn được xem là lĩnh vực hỗ trợ, mà đã được đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia.

Quyết tâm chính trị đó được thể hiện rõ nét trong tổ chức thực hiện. Việc Tổng Bí thư Tô Lâm trực tiếp làm Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cho thấy đây là nhiệm vụ chiến lược, cần sự lãnh đạo xuyên suốt, trực tiếp của Đảng. Tổng Bí thư nhiều lần nhấn mạnh: phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số không còn là sự lựa chọn, mà là yêu cầu bắt buộc để phát triển nhanh và bền vững đất nước. “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là lựa chọn bắt buộc, là con đường duy nhất để đưa đất nước phát triển và nâng cao đời sống cho nhân dân. Và tới đây phải triển khai thật mạnh để đạt hai mục tiêu cao nhất: Quản trị xã hội tốt hơn và phải đi vào sản xuất, tăng năng suất lao động”, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh.

Đến nay sau hơn một năm triển khai Nghị quyết 57, những chuyển biến bước đầu đã được ghi nhận. Thể chế từng bước được khơi thông với hàng loạt luật, nghị định, thông tư được ban hành đồng bộ; các cơ chế phân cấp, phân quyền, hợp tác công - tư và thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) được cụ thể hóa. Nguồn lực cho khoa học, công nghệ và chuyển đổi số được ưu tiên bố trí ở mức khoảng 3% tổng chi ngân sách nhà nước. Đóng góp của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào GDP ước đạt trên 16,4%, cho thấy vai trò ngày càng rõ nét của động lực tri thức trong nền kinh tế.

Với quyết tâm của cả hệ thống chính trị, đến nay, nhiều nền tảng số quốc gia quan trọng đã đi vào vận hành ổn định, như Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cổng Dịch vụ công quốc gia, hệ thống định danh điện tử,… Trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương hai cấp chính thức vận hành, các nền tảng này góp phần bảo đảm quản lý thông suốt, nâng cao hiệu quả điều hành, rút ngắn thủ tục hành chính, tiết kiệm chi phí cho người dân và doanh nghiệp. Đây là những kết quả cụ thể cho thấy khoa học và công nghệ đang từng bước đi vào đời sống, trở thành công cụ nâng cao năng lực quản trị quốc gia.

Kiến tạo tương lai trên nền tảng văn hóa và động lực khoa học - công nghệ

Tuy nhiên, chính khi khoa học và công nghệ được xác lập là động lực then chốt của tăng trưởng, yêu cầu phát triển có chiều sâu lại trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết. Bởi lẽ, động lực dù mạnh đến đâu cũng không thể tự quyết định hướng đi của sự phát triển nếu thiếu một hệ giá trị đủ vững để dẫn dắt. Kinh nghiệm phát triển của thế giới cho thấy, những mô hình tăng trưởng dựa thuần vào công nghệ và hiệu quả kinh tế, nếu không được điều tiết bởi các giá trị văn hóa và chuẩn mực con người, rất dễ tạo ra những lệch pha xã hội, làm xói mòn niềm tin và suy giảm tính bền vững của phát triển.

Trong kỷ nguyên số, khi công nghệ không chỉ thay đổi phương thức sản xuất mà còn định hình lối sống, hành vi xã hội và không gian giá trị của con người, câu hỏi cốt lõi của phát triển không còn dừng lại ở năng lực “làm được gì”, mà chuyển sang bản chất “phát triển vì điều gì và vì ai”. Chính từ yêu cầu đó, cùng với việc xác lập khoa học và công nghệ là động lực then chốt, Đảng đã nhất quán đặt văn hóa và con người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển đất nước - như một nguyên tắc nền tảng để định hướng khát vọng, điều tiết tốc độ và bảo đảm cho tiến trình hiện đại hóa diễn ra hài hòa, nhân văn và bền vững. Đây không phải là sự bổ sung mang tính cân bằng, mà là điều kiện tất yếu để động lực khoa học - công nghệ phát huy đúng vai trò lịch sử của mình trong hành trình phát triển quốc gia.

Kiến tạo tương lai trên nền tảng văn hóa và động lực khoa học - công nghệ

Nếu khoa học và công nghệ được xác lập là động lực then chốt để nâng cao năng lực phát triển quốc gia, thì câu hỏi đặt ra tiếp theo không thể né tránh là: động lực ấy sẽ được dẫn dắt bởi hệ giá trị nào, phục vụ cho mục tiêu phát triển gì và vì ai. Chính tại điểm then chốt đó, việc Đảng đặt văn hóa và con người vào vị trí trung tâm không chỉ là một lựa chọn mang tính nhân văn, mà là yêu cầu chiến lược để bảo đảm cho con đường phát triển đã chọn đi được xa, đi được bền và không chệch hướng.

Ngày 7/1/2026, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Thời điểm ban hành Nghị quyết mang ý nghĩa đặc biệt, khi đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, hướng tới các mốc son 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập nước. Trong tổng thể đó, Nghị quyết 80 thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng trong việc đưa văn hóa thật sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn và “hệ điều tiết” cho phát triển nhanh và bền vững.

Kiến tạo tương lai trên nền tảng văn hóa và động lực khoa học - công nghệ

Điểm cốt lõi của Nghị quyết 80 nằm ở sự chuyển biến sâu sắc trong tư duy phát triển: văn hóa không chỉ là lĩnh vực bổ trợ hay “phần mềm” của tăng trưởng, mà được đặt ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, thấm sâu vào mọi mặt của đời sống quốc gia. Kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, Nghị quyết khẳng định các giá trị văn hóa phải được gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, quản trị xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại; đồng thời hình thành thế trận an ninh văn hóa, an ninh con người và chủ quyền văn hóa trong không gian số.

Từ quan điểm đó, Nghị quyết xác lập rõ vai trò chủ thể của Nhân dân trong sáng tạo và thụ hưởng văn hóa; nhấn mạnh trách nhiệm lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, đồng thời đề cao tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên và vai trò đặc biệt của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, doanh nhân. Đầu tư cho văn hóa được xác định không phải là chi tiêu phúc lợi đơn thuần, mà là đầu tư cho phát triển bền vững, cho tương lai lâu dài của dân tộc, với Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt và sự tham gia ngày càng sâu rộng của xã hội.

Tính chiến lược của Nghị quyết 80 còn thể hiện rõ ở hệ thống mục tiêu cụ thể, có khả năng đo lường và gắn với tầm nhìn dài hạn. Đến năm 2030 và 2045, văn hóa Việt Nam được định hướng phát triển theo hướng tiên tiến, đậm đà bản sắc, thống nhất trong đa dạng; hệ thống thiết chế văn hóa hoàn chỉnh, môi trường văn hóa lành mạnh, nhân văn, hiện đại; văn học, nghệ thuật đạt tầm khu vực và thế giới; di sản văn hóa được bảo tồn và phát huy giá trị; công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế quan trọng. Những chỉ tiêu như số hóa toàn bộ di sản văn hóa được xếp hạng, phổ cập thụ hưởng văn hóa trong giáo dục, hay mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030, 9% vào năm 2045 cho thấy cách tiếp cận mới: văn hóa vừa là giá trị tinh thần, vừa là nguồn lực phát triển.

Một điểm đổi mới đáng chú ý của Nghị quyết 80 là yêu cầu chuyển từ tư duy “quản lý văn hóa” sang quản trị văn hóa hiện đại, lấy hiệu quả, minh bạch và sáng tạo làm thước đo; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực văn hóa.

Việc xác lập ngày 24/11 là “Ngày Văn hóa Việt Nam” - ngày nghỉ hưởng lương - không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng, mà còn cho thấy nỗ lực nâng cao mức thụ hưởng văn hóa của người dân, khuyến khích sáng tạo và lan tỏa lối sống văn minh trong toàn xã hội.

Trong tổng thể tư duy phát triển mà Đảng đang định hình, Nghị quyết 80 gắn chặt với những tư tưởng chủ đạo được Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh trước thềm Đại hội XIV: đoàn kết và niềm tin; kỷ cương và đột phá; phát triển vì con người và bằng tri thức. Nếu khoa học và công nghệ tạo ra động lực tăng trưởng mới, thì văn hóa chính là nền tảng tinh thần để động lực ấy được sử dụng đúng hướng, vì con người, vì hạnh phúc và vì sự bền vững của quốc gia.

Kiến tạo tương lai trên nền tảng văn hóa và động lực khoa học - công nghệ

Thực tiễn lịch sử cho thấy, mỗi giai đoạn phát triển mạnh mẽ của đất nước đều gắn liền với sự thăng hoa của văn hóa. Trong thời kỳ đổi mới, tư duy về văn hóa tiếp tục được hoàn thiện; nguồn lực đầu tư ngày càng được quan tâm; công nghiệp văn hóa từng bước hình thành; hội nhập quốc tế về văn hóa được mở rộng, góp phần nâng cao sức mạnh mềm và vị thế quốc gia. Việc ban hành Nghị quyết 80 vì thế không phải là một bước đi đơn lẻ, mà là sự tiếp nối có chiều sâu trong tư duy lãnh đạo của Đảng.

Đặt văn hóa ở trung tâm dẫn dắt khát vọng quốc gia chính là cách Đảng bảo đảm rằng quá trình phát triển nhanh trong kỷ nguyên mới không đánh đổi các giá trị căn cốt, không làm tổn thương nền tảng tinh thần của xã hội, mà trái lại, làm giàu thêm bản sắc, hun đúc trí tuệ, tâm hồn và bản lĩnh con người Việt Nam. Trên nền tảng đó, động lực phát triển được kích hoạt từ khoa học và công nghệ sẽ có điểm tựa vững chắc để lan tỏa thành khát vọng chung của toàn dân tộc, đưa đất nước vững bước tiến lên trong giai đoạn phát triển mới.

Kiến tạo tương lai trên nền tảng văn hóa và động lực khoa học - công nghệ

Khi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác lập là động lực then chốt của tăng trưởng; khi văn hóa và con người được đặt vào vị trí trung tâm dẫn dắt khát vọng phát triển, con đường phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới không chỉ được định hình về phương hướng, mà còn được bảo đảm về chiều sâu và tính bền vững. Hai trụ cột ấy - động lực hiện đại và nền tảng giá trị - không tồn tại song song, mà hòa quyện trong một chỉnh thể tư tưởng thống nhất, phản ánh ngày càng rõ bản lĩnh lãnh đạo và tầm nhìn chiến lược của Đảng.

Trong logic đó, phát triển không còn được đo thuần túy bằng tốc độ tăng trưởng hay quy mô kinh tế, mà bằng năng lực làm chủ tri thức, chất lượng con người và khả năng tự điều chỉnh của xã hội trước những biến động nhanh chóng của thế giới. Phát triển nhanh nhưng phải đi chắc; hội nhập sâu nhưng không hòa tan; hiện đại hóa nhưng không đánh mất mình - đó là những yêu cầu chỉ có thể được giải quyết khi động lực khoa học - công nghệ được dẫn dắt bởi hệ giá trị văn hóa bền vững, và khi khát vọng phát triển được đặt trên nền tảng con người Việt Nam.

Kiến tạo tương lai trên nền tảng văn hóa và động lực khoa học - công nghệ

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra đúng vào thời điểm hội tụ những điều kiện mang tính bước ngoặt như vậy. Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã tích lũy được thế và lực đủ lớn để bước vào giai đoạn phát triển cao hơn; đồng thời cũng đứng trước những thách thức chưa từng có tiền lệ về cạnh tranh chiến lược, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và biến đổi sâu sắc của không gian phát triển toàn cầu. Yêu cầu đặt ra không còn là điều chỉnh cục bộ, mà là xác lập một tầm nhìn phát triển đủ bao quát, đủ nhất quán và đủ sức dẫn dắt trong dài hạn.

Những nghị quyết trụ cột được ban hành trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng cho thấy tư duy phát triển ấy đang được hoàn chỉnh một cách có hệ thống và ngày càng rõ nét. Dù tiếp cận từ các lĩnh vực khác nhau - khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; phát triển văn hóa; hoàn thiện thể chế; phát triển kinh tế tư nhân; hội nhập quốc tế; giáo dục - đào tạo; chăm sóc sức khỏe nhân dân - các quyết sách này đều cùng quy tụ về một trục tư tưởng chung: lấy con người làm trung tâm của phát triển, lấy khoa học và công nghệ làm động lực then chốt, và lấy văn hóa làm nền tảng định hướng.

Đó không phải là sự tập hợp rời rạc các chính sách theo lĩnh vực, mà là sự tích hợp chiến lược có chủ đích, trong đó mỗi nghị quyết vừa giải quyết những yêu cầu cụ thể trước mắt, vừa được đặt trong một chỉnh thể phát triển thống nhất của quốc gia, nơi tăng trưởng gắn với tiến bộ xã hội, hiện đại hóa đi cùng bản sắc, và hội nhập được dẫn dắt bởi bản lĩnh tự chủ của dân tộc.

Trong kỷ nguyên mới, trí tuệ Việt Nam không chỉ là nguồn lực của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, mà còn là khả năng lựa chọn đúng, hành động đúng và kiên trì theo đuổi những giá trị đúng. Bản lĩnh Việt Nam không chỉ thể hiện ở ý chí vượt khó, mà còn ở năng lực tự đổi mới, tự điều chỉnh và tự hoàn thiện để phát triển bền vững trong một thế giới nhiều biến động.

Kiến tạo tương lai trên nền tảng văn hóa và động lực khoa học - công nghệ

Từ nền tảng văn hóa được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, được làm giàu bằng tri thức và sáng tạo hiện đại; từ động lực khoa học và công nghệ đang được kích hoạt mạnh mẽ; và từ sự lãnh đạo nhất quán, xuyên suốt của Đảng, con đường phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới đang ngày càng hiện rõ. Đó là con đường kết hợp hài hòa giữa phát triển nhanh và phát triển bền vững, giữa hiện đại hóa và giữ gìn bản sắc, giữa hội nhập sâu rộng và bảo vệ vững chắc chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc; một con đường phát triển dựa trên nội lực, tự cường về trí tuệ, vững vàng về bản lĩnh và giàu chiều sâu văn hóa.

Tinh thần ấy được kết tinh và thể hiện tập trung trong chủ đề của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng: “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”. Đây không chỉ là mục tiêu chính trị của một nhiệm kỳ, mà là sự khẳng định rõ ràng con đường phát triển mà Đảng và Nhân dân ta lựa chọn: phát triển dựa trên trí tuệ và sáng tạo, lấy con người làm trung tâm, lấy văn hóa làm nền tảng tinh thần, lấy khoa học và công nghệ làm động lực then chốt, để đất nước vững bước tiến mạnh, tự tin kiến tạo tương lai quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới.

Thực hiện: Quang Hùng - Bích Vân