

Cuối tháng 6 và đầu tháng 7/2026, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam liên tiếp nhận được hai bức thư cảm ơn từ Ban Trị sự Trung ương Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo. Thoạt nhìn, đó là những bức thư sau các dịp lễ trọng nhưng đọc kỹ từng dòng chữ, điều đáng chú ý hơn là, bên cạnh lời tri ân đối với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Mặt trận, các bức thư còn thể hiện cam kết tiếp tục đồng hành vì sự phát triển của đất nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong thư gửi Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài nhân dịp Đại lễ Tam hợp năm 2026, Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa khẳng định sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Mặt trận là "minh chứng sâu sắc, sinh động cho tinh thần tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và sự bình đẳng giữa các tôn giáo ở Việt Nam", đồng thời bày tỏ quyết tâm tiếp tục phát huy truyền thống "Hành tứ ân - Sống hiếu nghĩa - Vì đại đoàn kết toàn dân tộc".
Ít ngày sau, Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo cũng gửi thư cảm ơn nhân kỷ niệm 87 năm Ngày Đức Huỳnh Giáo chủ khai sáng đạo. Bên cạnh lời tri ân, bức thư điểm lại những kết quả nổi bật trong công tác an sinh xã hội với gần 2.500 tỷ đồng được huy động trong nhiệm kỳ V (2019-2024) và hơn 610 tỷ đồng riêng năm 2025, đồng thời khẳng định sẽ tiếp tục huy động nguồn lực của toàn đạo để đồng hành cùng Mặt trận trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hai bức thư không chỉ dừng ở lời cảm ơn sau một sự kiện. Đó là tiếng nói tự nguyện của các tổ chức tôn giáo, phản ánh sự tin cậy được vun đắp qua nhiều năm chung sức với Mặt trận. Hai bức thư ấy cũng gợi nhắc hành trình chúng tôi vừa đi qua và những cam kết được viết trong thư cũng chính là điều đã hiện hữu trong đời sống: những phần quà, những căn nhà nghĩa tình được dựng lên từ tinh thần sẻ chia, những cuộc đối thoại tháo gỡ vướng mắc ở cơ sở và những khu dân cư, phum, sóc bình yên nhờ sự chung tay của các chức sắc, người có uy tín.

Nếu trước đây, công tác tín ngưỡng, tôn giáo chủ yếu tập trung vào tuyên truyền, vận động và thực hiện các nhiệm vụ quản lý theo quy định của pháp luật, thì những gì chúng tôi chứng kiến trên hành trình qua bốn địa phương cho thấy bước chuyển rõ nét trong tư duy và phương thức hoạt động của Mặt trận. Đồng bào các tôn giáo không chỉ tham gia hưởng ứng các chủ trương, phong trào do Mặt trận phát động, mà còn chủ động gắn kết cùng Mặt trận và chính quyền giải quyết những vấn đề của cộng đồng, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sự chuyển biến ấy hiện diện qua nhiều câu chuyện rất cụ thể. Ở Ninh Bình, giáo dân tự nguyện hiến đất, mở rộng đường giao thông sau những cuộc đối thoại giữa Mặt trận, chính quyền và Ban hành giáo. Tại An Giang, các đội xây cầu, cất nhà từ thiện của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo duy trì hoạt động bền bỉ từ tinh thần phụng sự và sự phối hợp của chính quyền, Mặt trận. Ở TP Hồ Chí Minh, nhiều vướng mắc liên quan đến cơ sở thờ tự được tháo gỡ bằng đối thoại trên tinh thần thượng tôn pháp luật. Còn tại Đắk Lắk, các chức sắc, mục sư và người có uy tín trở thành lực lượng nòng cốt trong giữ gìn an ninh trật tự, hòa giải mâu thuẫn và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.
Điểm gặp nhau ở tất cả những câu chuyện ấy là các tổ chức tôn giáo không còn chỉ tham gia với vai trò hưởng ứng các phong trào, mà đã trở thành những chủ thể đồng hành, chủ động đóng góp trí tuệ, tâm lực và nguồn lực vật chất để cùng Mặt trận và chính quyền chăm lo đời sống Nhân dân.

Thực tiễn đang diễn ra ở nhiều địa phương cũng chính là tinh thần được khái quát trong Kết luận số 02 của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Điểm nhấn mạnh của Kết luận là lấy nhân dân làm trung tâm, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân làm thước đo hiệu quả; đồng thời phát huy vai trò của đồng bào các tôn giáo trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mặt trận phải hướng mạnh về cơ sở, tăng cường đối thoại, lắng nghe và kịp thời giải quyết những vấn đề phát sinh ngay từ cơ sở.
Những câu chuyện ở Ninh Bình, An Giang, TP Hồ Chí Minh và Đắk Lắk cho thấy, khi niềm tin được xây dựng bằng sự tôn trọng và đồng hành, các tổ chức tôn giáo sẽ phát huy tốt hơn những giá trị văn hóa, đạo đức và nguồn lực của mình, trở thành lực lượng gắn bó tin cậy của Mặt trận trong việc chăm lo đời sống nhân dân và gắn kết xã hội.

Từ những kinh nghiệm được kiểm chứng trong thực tiễn, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ban hành Kết luận số 02-KL/MTTW-ĐCT ngày 5/6/2026 về đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác tín ngưỡng, tôn giáo giai đoạn mới. Kết luận vừa tổng kết những mô hình đã phát huy hiệu quả, vừa xác lập những định hướng cho giai đoạn mới.

Điểm cốt lõi của Kết luận không chỉ nằm ở những nhiệm vụ hay giải pháp mới, mà ở sự thay đổi trong cách tiếp cận. Nếu trước đây công tác vận động chủ yếu hướng tới việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, thì nay người dân, trong đó có đồng bào các tôn giáo, được xác định là trung tâm, là chủ thể, đồng thời cũng là mục tiêu và động lực của quá trình đổi mới. Hiệu quả công tác Mặt trận vì thế không còn được đo bằng số lượng cuộc họp hay văn bản ban hành, mà bằng việc những nguyện vọng chính đáng của nhân dân có được lắng nghe, giải quyết và đời sống của đồng bào có thực sự được cải thiện hay không.


Một điểm mới đáng chú ý khác là yêu cầu hướng mạnh về cơ sở, coi khu dân cư, giáo xứ, chùa chiền, thánh thất, buôn làng... là nơi trực tiếp xây dựng khối đại đoàn kết. Vai trò của các vị chức sắc, chức việc, nhà tu hành và người có uy tín vì thế được phát huy không chỉ trong đời sống tôn giáo mà còn trong các phong trào thi đua yêu nước, bảo vệ môi trường, xây dựng nông thôn mới, chăm lo an sinh xã hội và nâng cao chất lượng đời sống của người dân. Đồng thời, những giá trị văn hóa, đạo đức và xã hội của các tôn giáo cũng được nhìn nhận đầy đủ hơn như một nguồn lực quan trọng góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Có thể nói, Kết luận số 02 không xuất phát từ những luận điểm mang tính lý thuyết, mà được đúc kết từ những mô hình đã được kiểm chứng ở nhiều địa phương, trong đó có những nơi chúng tôi trực tiếp khảo sát. Điều đó khẳng định rằng, khi người dân được đặt ở vị trí trung tâm, các tổ chức tôn giáo được tôn trọng và phát huy vai trò, sức mạnh đại đoàn kết sẽ được chuyển hóa thành những hành động thiết thực vì cuộc sống bình yên, ấm no của Nhân dân.
Những ngôi nhà, lớp học tình thương, những cây cầu hay những bức thư chân thành gửi tới Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ là những lát cắt nhỏ của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hôm nay. Ghép lại, đó là bức tranh về sự phối hợp giữa các tôn giáo với cộng đồng và đất nước.
Khép lại loạt bài, hiện lên rõ nhất là một thực tế: gần 28 triệu tín đồ thuộc 16 tôn giáo ở Việt Nam đang cùng góp sức xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó không chỉ là kết quả của chính sách bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn là thành quả của sự tôn trọng, đối thoại và đồng hành bền bỉ giữa Mặt trận với các tổ chức tôn giáo. Khi những giá trị văn hóa, đạo đức và xã hội của tôn giáo được phát huy đúng mức, chúng sẽ trở thành nguồn lực quan trọng cho an sinh xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nền tảng phát triển bền vững của quốc gia.

Thực hiện: Đăng Khang - Duy Hưng - Thanh Nga - Quốc Định - Thanh Tiến - Quang Hùng