
Khi được tổ chức bài bản, chuỗi giá trị này không chỉ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn đóng góp tích cực vào sự phát triển của các phân ngành công nghiệp văn hóa, đồng thời mở ra nhiều cơ hội việc làm và gia tăng thu nhập cho các bên tham gia, cả trực tiếp lẫn gián tiếp.

Việt Nam là quốc gia có bề dày lịch sử và văn hóa lâu đời với hệ thống di sản văn hóa rất phong phú. Theo thống kê của ngành văn hóa, hiện nay cả nước có hơn 40.000 di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh. Việt Nam còn có gần 9.000 lễ hội, phần lớn là lễ hội dân gian truyền thống gắn với tín ngưỡng, lịch sử và đời sống cộng đồng ở các địa phương. Các lễ hội diễn ra quanh năm, phản ánh bản sắc văn hóa đặc trưng của từng vùng miền.

Ngoài ra, kho tàng văn hóa dân tộc còn được thể hiện qua hàng trăm loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc như chèo, tuồng, cải lương, quan họ, ca trù, hát xoan, đờn ca tài tử, bài chòi… Những loại hình nghệ thuật này được lưu truyền qua nhiều thế hệ và trở thành phần quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam.
Với số lượng lớn di tích, lễ hội và các loại hình nghệ thuật dân gian phong phú, Việt Nam được xem là một trong những quốc gia có nguồn tài nguyên văn hóa đa dạng và giàu bản sắc ở khu vực châu Á. Không chỉ là điểm đến tham quan, những giá trị văn hóa này còn chứa đựng tiềm năng to lớn để trở thành nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội nếu được khai thác hiệu quả.

Trong bối cảnh ngành du lịch ngày càng chuyển dịch theo hướng trải nghiệm và khám phá bản sắc địa phương, du lịch văn hóa được xem là một trong những trụ cột quan trọng của phát triển bền vững. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam vẫn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có. Không ít điểm đến vẫn khai thác di sản theo cách truyền thống, thiếu sáng tạo, sản phẩm du lịch còn đơn điệu. Nhiều giá trị văn hóa mới chỉ dừng lại ở việc bảo tồn, trưng bày mà chưa được “kể câu chuyện” một cách hấp dẫn để trở thành trải nghiệm có giá trị đối với du khách.

PGS.TS Phạm Trung Lương, nguyên Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Phát triển Du lịch chỉ ra thời gian qua, phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam còn chưa tương xứng với vị thế, chưa thu hút được các bên có liên quan, đặc biệt là các phân ngành công nghiệp văn hóa như nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ, thời trang tham gia để đẩy mạnh phát triển du lịch văn hóa tương xứng với tiềm năng và lợi thế, có đóng góp tích cực hơn cho phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa.
Đơn cử, với Phú Quốc, ông Lương đánh giá địa phương đã có những doanh nghiệp đi đầu trong việc khai thác giá trị văn hóa, tạo ra sức hấp dẫn riêng trong việc biến giá trị văn hóa thành giá trị kinh tế theo đúng định hướng phát triển công nghiệp văn hóa của Chính phủ. Chuyên gia này cho rằng trong thời gian tới, các giá trị văn hóa nên đan xen vào các hoạt động như nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí… để sản phẩm du lịch có chiều sâu, có giá trị gia tăng cao. Cần phải phát triển những tổ hợp, phức hợp về vui chơi giải trí, mua sắm và ẩm thực, thúc đẩy kinh tế đêm. Lồng ghép giá trị văn hóa vào sản phẩm du lịch mới tạo nên đẳng cấp cao cho sản phẩm, thu hút khách quốc tế, khách chi tiêu cao.

Cùng chung quan điểm, ông Phạm Hải Quỳnh - Viện trưởng Viện Phát triển Du lịch châu Á (ATI) cho rằng dù Việt Nam sở hữu kho tàng di sản đồ sộ, nhưng việc chuyển hóa từ "tài nguyên" sang "tài sản" vẫn gặp những "điểm nghẽn". Chúng ta mới dừng lại ở việc cho khách đến "xem" di sản chứ chưa cho khách "sống" cùng di sản. Sản phẩm du lịch văn hóa còn đơn điệu, thiếu tính trải nghiệm cá nhân hóa. Du lịch văn hóa đang hoạt động khá độc lập, chưa gắn kết chặt chẽ với các ngành công nghiệp văn hóa khác như điện ảnh, âm nhạc hay thời trang để tạo ra hiệu ứng cộng hưởng. Nhiều vùng di sản rất đẹp nhưng hạ tầng giao thông khó tiếp cận, dịch vụ lưu trú và giải trí đi kèm nghèo nàn, dẫn đến việc khách không lưu trú lâu và mức chi tiêu thấp.

Chuyên gia này chỉ ra nhiều làng nghề thủ công, các loại hình nghệ thuật dân gian chỉ được biểu diễn mang tính "trình diễn" vào dịp lễ hội, chưa trở thành sản phẩm thương mại có tính chu kỳ hàng ngày. Mỗi di tích đều có một bề dày lịch sử, nhưng cách kể chuyện của chúng ta còn khô khan, mang nặng tính thuyết minh bảo tàng, chưa chạm được vào cảm xúc của du khách quốc tế. Do tư duy "bảo tồn tĩnh" (giữ nguyên trạng để thờ phụng) lấn át "bảo tồn động" (đưa di sản vào đời sống kinh tế).
“Chúng ta cần chuyển từ "quản lý di sản" sang "quản trị giá trị di sản". Nghĩa là không chỉ bảo vệ, mà phải tạo ra hệ sinh thái kinh tế xung quanh nó. Thay vì chỉ có doanh nghiệp khai thác, hãy để người dân bản địa trở thành người làm dịch vụ chuyên nghiệp. Khi người dân sống được bằng di sản, họ sẽ bảo tồn nó tốt nhất” – ông Phạm Hải Quỳnh nêu quan điểm.

Nhấn mạnh việc phát triển công nghiệp văn hóa cần gắn chặt với chuỗi giá trị du lịch tại từng địa phương, ông Nguyễn Hồng Hải – Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam cho rằng, các địa phương nên xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa dựa trên những giá trị bản sắc riêng, kết hợp yếu tố sáng tạo và ứng dụng công nghệ số để nâng cao hiệu quả khai thác.

Cụ thể, cần phát huy tốt các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Việt Nam, đồng thời kết nối với nhiều lĩnh vực sáng tạo như nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, ẩm thực, thời trang và âm nhạc nhằm tạo ra những sản phẩm du lịch mang dấu ấn riêng. Bên cạnh đó, việc thúc đẩy chuyển đổi số trong quảng bá và giới thiệu các sản phẩm văn hóa – du lịch sẽ giúp hình ảnh địa phương tiếp cận rộng rãi hơn với du khách quốc tế, đồng thời tạo ra không gian tương tác giữa du khách, nghệ sĩ và doanh nghiệp.

Để kết nối các mảnh ghép ẩm thực, thời trang, nghệ thuật, công nghệ…, ông Phạm Hải Quỳnh cho rằng các địa phương cần thực hiện chiến lược “Hệ sinh thái tích hợp”. Một tour du lịch không chỉ là đi tham quan, mà phải được trải nghiệm như mặc trang phục truyền thống – Thưởng thức đặc sản vùng miền – Xem show diễn thực cảnh – Mua quà lưu niệm tinh xảo. Sử dụng công nghệ AR/VR để phục dựng không gian di sản trong quá khứ, giúp du khách trải nghiệm những giá trị đã mất mát. Dùng Big Data để phân tích hành vi du khách, từ đó tiếp thị trúng đích trên các nền tảng mạng xã hội toàn cầu.
“Cần có những không gian sáng tạo tại các điểm du lịch để các nghệ sĩ, nghệ nhân và startup công nghệ có thể cùng nhau tạo ra sản phẩm mới trên nền tảng di sản cũ. Du lịch văn hóa không nên là một ngành khai thác tài nguyên sẵn có, mà phải là ngành kinh tế sáng tạo. Khi chúng ta thổi được tâm hồn của thời đại vào di sản truyền thống, lúc đó tiềm năng mới thực sự trở thành nguồn lực tài chính bền vững” – ông Quỳnh chia sẻ.

Thực hiện: Phạm
Sỹ- Thu Hương
Trình bày: Quang Hùng