
Thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc đòi hỏi phát huy cao nhất sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trước những mục tiêu phát triển lớn và yêu cầu đổi mới mạnh mẽ, công tác dân vận giữ vai trò quan trọng trong việc củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, phát huy quyền làm chủ và khơi dậy nguồn lực trong xã hội. Giá trị của mỗi chủ trương, chính sách, suy cho cùng, phải được kiểm nghiệm bằng thực tiễn cuộc sống, bằng sự tham gia của Nhân dân và những chuyển biến thiết thực trong đời sống.
Đó cũng là bài học xuyên suốt truyền thống 96 năm công tác dân vận của Đảng (15/10/1930 - 15/10/2026). Tháng 10/1930, Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng đánh dấu bước phát triển quan trọng trong việc tổ chức công tác vận động quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trải qua các chặng đường cách mạng, công tác dân vận góp phần tập hợp lực lượng, khơi dậy lòng yêu nước và quy tụ ý chí của hàng triệu con người vì mục tiêu chung. Ngày 15/10 hằng năm được xác định là Ngày truyền thống công tác dân vận của Đảng, gắn với dấu mốc lịch sử ấy và quá trình phát triển của công tác vận động quần chúng.

Tinh thần dân vận được thể hiện từ những việc làm bình dị, gần gũi với đời sống. Ngày 15/10/1945, Báo Cứu quốc, tiền thân của Báo Đại đoàn kết ngày nay, đăng bài viết “Trả lời thư của Nhi đồng Cứu quốc Phước Diên (Quảng Ninh) và Cẩm Giàng (Hải Dương)” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xúc động trước việc các em nhỏ nhịn ăn quà để góp tiền vào Quỹ Độc lập, Người biểu dương các em là những “cháu chắt rất xứng đáng của tổ tiên Hồng-Lạc”. Giữa những ngày đầu của chính quyền cách mạng còn muôn vàn khó khăn, sự quan tâm của Người cho thấy việc vận động quần chúng bắt đầu từ khả năng lắng nghe, trân trọng tấm lòng và khuyến khích mỗi người đóng góp cho việc chung.
Bốn năm sau, ngày 15/10/1949, tác phẩm “Dân vận” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên Báo Sự thật, cô đọng những nguyên tắc căn bản của công tác dân vận. Người căn dặn cán bộ phải “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”, nhấn mạnh sự thống nhất giữa nhận thức với thực tiễn, lời nói với hành động. Từ việc trân trọng đóng góp của những em nhỏ đến yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, tư tưởng dân vận của Người đều hướng đến một điểm cốt lõi: muốn tập hợp được sức dân, trước hết phải hiểu dân, trọng dân và hành động vì lợi ích chính đáng của Nhân dân.
Nguyên tắc ấy vẫn giữ nguyên ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay, dù nhiệm vụ phát triển đất nước đã có nhiều thay đổi. Công tác dân vận ngày nay gắn với việc phát huy quyền làm chủ, tạo dựng đồng thuận xã hội, khơi thông nguồn lực và thúc đẩy khát vọng phát triển. Sự thay đổi của thực tiễn đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức vận động, để mối liên hệ giữa Đảng với Nhân dân ngày càng được củng cố bằng những việc làm cụ thể và kết quả có thể cảm nhận trong đời sống.

Yêu cầu đổi mới ấy càng rõ nét khi đất nước bước vào giai đoạn thực hiện những mục tiêu phát triển dài hạn. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10% mỗi năm trở lên trong giai đoạn 2026–2030 thể hiện quyết tâm tạo bước bứt phá mạnh mẽ. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, bên cạnh hoàn thiện thể chế, phát triển khoa học, công nghệ và huy động nguồn lực đầu tư, đất nước còn phải phát huy trí tuệ, sức sáng tạo và khả năng đóng góp của người dân, doanh nghiệp cùng các thành phần kinh tế.
Trong bối cảnh đó, đổi mới tổ chức và phương thức thực hiện công tác dân vận là một nội dung đáng chú ý của quá trình đổi mới hệ thống chính trị. Theo Kết luận số 88-KL/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị, chức năng, nhiệm vụ tham mưu về công tác dân vận được chuyển từ Ban Tuyên giáo Trung ương sang Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương. Sự điều chỉnh này đặt công tác tham mưu trong mối liên hệ gần hơn với thực tiễn tập hợp, đoàn kết và vận động các tầng lớp Nhân dân. Công tác dân vận vẫn là trách nhiệm của toàn Đảng và cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; ý nghĩa của việc đổi mới tổ chức sẽ được thể hiện qua chất lượng tham mưu, khả năng phản ánh thực tiễn và sự gắn kết giữa chủ trương với đời sống.

Từ yêu cầu đó, hiệu quả công tác dân vận trước hết được thể hiện ở khả năng nắm bắt những vấn đề nảy sinh tại cơ sở, phản ánh đầy đủ tiếng nói của Nhân dân và góp phần tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện chính sách. Sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức phải bảo đảm thông suốt, tránh chồng chéo và hành chính hóa. Những kiến nghị chính đáng cần được tiếp nhận, xem xét và chuyển đến đúng cơ quan có trách nhiệm. Đây là những yếu tố quyết định để đổi mới tổ chức không dừng ở sự thay đổi về cách thức vận hành, mà tạo ra chuyển biến thực chất trong công việc.
Cách tiếp cận ấy phù hợp với tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về đổi mới công tác tuyên giáo và dân vận, trong đó nhấn mạnh yêu cầu cán bộ làm công tác dân vận phải “Nghe bằng tai, hiểu bằng tâm, thuyết phục bằng lý, dẫn dắt bằng tình”, đồng thời “cổ vũ và cùng nhân dân hành động”. Đó không chỉ là phương châm ứng xử, mà còn gợi mở thước đo hiệu quả của công tác dân vận: không dừng ở việc truyền đạt chủ trương, mà phải tạo được sự thấu hiểu, khơi dậy tinh thần chủ động, phát huy sáng kiến và quy tụ người dân cùng tham gia giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn.

Muốn sự tham gia ấy trở thành thực chất, công tác dân vận phải gắn với toàn bộ quá trình xây dựng và thực hiện chính sách. Trong quá trình triển khai Nghị quyết Đại hội XIV và các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, những vấn đề người dân quan tâm, bất cập trong thực thi chính sách và rào cản đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh cần được phản ánh kịp thời để các cơ quan chức năng xem xét, xử lý. Một quyết sách phát triển sẽ có điều kiện phát huy hiệu quả cao hơn khi mục tiêu được giải thích rõ ràng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân được bảo đảm, còn phản hồi từ thực tiễn được tiếp thu nghiêm túc.
Điều đó gắn trực tiếp với trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và từng cán bộ, đảng viên. Hướng về cơ sở, tăng cường tiếp xúc, đối thoại và chủ động giải quyết kiến nghị của Nhân dân là những biểu hiện thiết thực của công tác dân vận. Những biểu hiện quan liêu, vô cảm, né tránh trách nhiệm, nói không đi đôi với làm phải được khắc phục bằng kỷ luật công vụ, trách nhiệm nêu gương và cơ chế kiểm tra, giám sát thực chất. Niềm tin của Nhân dân được củng cố qua chất lượng phục vụ và khả năng giải quyết những vấn đề cụ thể, chứ không đơn thuần từ số lượng cuộc vận động hay phong trào được phát động.
Cùng với cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò quan trọng trong việc tập hợp, đoàn kết các tầng lớp Nhân dân; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân. Việc củng cố đồng thuận xã hội cũng đặt ra yêu cầu quan tâm hơn đến tâm tư, nguyện vọng và những ý kiến khác nhau trong Nhân dân, trên cơ sở đó xem xét, tiếp thu các kiến nghị phù hợp và giải quyết những vấn đề phát sinh với tinh thần cầu thị, trách nhiệm, thượng tôn pháp luật. Qua đó, đối thoại và tiếp thu góp phần củng cố niềm tin, phát huy quyền làm chủ và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Từ việc phát huy quyền làm chủ đến huy động nguồn lực cho phát triển là mối liên hệ trực tiếp của công tác dân vận trong giai đoạn hiện nay. Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu phát huy truyền thống vẻ vang của công tác dân vận, sức mạnh của hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ; đồng thời đề cao tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, quyết tâm đổi mới nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ được Trung ương giao, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Cùng với đổi mới cách thức tổ chức và vận động, chuyển đổi số mở ra những phương thức mới cho công tác dân vận. Công nghệ và dữ liệu có thể hỗ trợ tiếp nhận phản ánh, nắm bắt dư luận, truyền thông chính sách và kết nối cộng đồng. Tuy nhiên, giá trị của công nghệ nằm ở khả năng giúp cơ quan, tổ chức hiểu thực tiễn nhanh hơn, xử lý vấn đề kịp thời hơn và phục vụ người dân tốt hơn. Các công cụ số có thể bổ trợ cho hoạt động tiếp xúc, đối thoại trực tiếp, nhưng không thay thế sự chân thành, tinh thần trách nhiệm và sự hiện diện của cán bộ ở cơ sở. Công cụ có thể thay đổi, song yêu cầu lắng nghe, thấu hiểu và tôn trọng Nhân dân vẫn là nền tảng của công tác dân vận.
Những yêu cầu đó cũng đặt ra trách nhiệm đối với báo chí, trong đó có Báo Đại đoàn kết. Tiếp nối truyền thống của Báo Cứu quốc, tờ báo đồng hành cùng sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc bằng việc phản ánh sinh động những mô hình dân vận hiệu quả, những tấm gương tận tụy vì cộng đồng; đồng thời chuyển tải trung thực tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân. Qua thông tin và phản biện có trách nhiệm, báo chí góp phần thúc đẩy đối thoại, làm rõ những vấn đề cần giải quyết và nâng cao trách nhiệm giải trình. Tiếng nói báo chí chỉ thực sự có sức nặng khi bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đúng thực tiễn và hướng tới những chuyển biến tích cực cho cộng đồng.
Kỷ niệm 96 năm Ngày truyền thống công tác dân vận của Đảng là dịp nhìn lại một bài học xuyên suốt lịch sử cách mạng: sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ mối quan hệ gắn bó với Nhân dân. Trong giai đoạn phát triển mới, bài học ấy được thể hiện qua chất lượng tham mưu, trách nhiệm thực thi, khả năng đối thoại và những chuyển biến cụ thể trong đời sống. Khi người dân được tôn trọng, được lắng nghe và có điều kiện phát huy quyền làm chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ tiếp tục là nguồn lực quan trọng để thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước. Vững gốc lòng dân, bền sức đại đoàn kết - đó vừa là sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược để đất nước vững bước trong kỷ nguyên phát triển mới.