Ngành nông nghiệp thực phẩm duy trì khả năng chống chịu cao trong đại dịch

An Chi 30/04/2021 08:00

Đại dịch đã gây ảnh hưởng toàn diện, sâu rộng đến tất cả các ngành nghề bao gồm nông nghiệp thực phẩm. Với vai trò là trụ cột quan trọng của nền kinh tế quốc gia, ngành nông nghiệp thực phẩm Việt Nam đã thể hiện khả năng chống chịu cao với tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ cùng tiềm năng thúc đẩy phục hồi kinh tế đứng thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á trong năm qua. Tuy nhiên, đại dịch đang tiếp diễn, rủi ro cung cầu còn đó và các biện pháp tài khóa, nếu không phù hợp, có thể sẽ trở thành những rào cản cho tăng trưởng quốc gia.

Tốc độ tăng trưởng

Theo báo cáo Ma trận phục hồi kinh tế (Economic Recovery Matrix), Việt Nam xếp thứ 2 trong danh sách mười quốc gia được kỳ vọng phục hồi kinh tế ngành nông nghiệp thực phẩm với số điểm 6,6/10, chỉ sau Singapore.

Điều này một phần là vì Việt Nam đã ngăn chặn sự lây lan virus Covid-19 tương đối sớm và giảm thiểu sự thiệt hại về kinh tế. Ngành nông nghiệp thực phẩm vẫn có khả năng chống chịu trong đại dịch Covid-19, đạt mức tăng trưởng 4% vào năm 2020, tương đương mức đóng góp tăng 3,7 tỉ đô la Mỹ vào GDP toàn quốc.

Trước đại dịch, ngành nông nghiệp thực phẩm Việt Nam đã có nhiều đóng góp to lớn cho nền kinh tế quốc gia. Kết quả từ báo cáo cho thấy ngành nông nghiệp thực phẩm Việt Nam đã đóng góp 86,4 tỉ đô la vào GDP trong năm 2019. Hiện ngành này cũng đang cung cấp 27,5 triệu việc làm, chiếm một nửa lực lượng lao động trên cả nước và là nguồn tạo việc làm quan trọng nhất trong nền kinh tế. Ngoài ra, ngành nông nghiệp thực phẩm cũng đóng góp tổng cộng 13,2 tỉ đô la vào thu nhập thuế của Việt Nam.

Kết quả này có được chủ yếu là nhờ ngành nông nghiệp chủ đạo của Việt Nam, đóng góp hơn 55,3 tỷ USD vào GDP, chiếm gần 2/3 thu nhập của toàn ngành. Tuy nhiên, trong những năm vừa qua, ngành nông nghiệp thực phẩm cũng đã bắt đầu đa dạng hóa hơn trong bối cảnh sản xuất và phân phối thực phẩm và đồ uống đều đạt mức tăng trưởng hai con số từ năm 2015 đến năm 2019.

Nhận xét về kết quả của báo cáo, bà Mary Tarnowka, Giám đốc Điều hành AmCham Vietnam cho rằng, ngành nông nghiệp thực phẩm trong nước đã thể hiện khả năng chống chịu tuyệt vời trước những thách thức của đại dịch. Tuy nhiên, sự lây lan của đại dịch Covid-19, rủi ro cung cầu và tài khóa có thể làm gián đoạn tăng trưởng của Việt Nam.

Tính đến nay, Việt Nam đã ký được nhiều Hiệp định thương mại tự do với EU, Anh, RCEP... mở ra quy mô tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp thực phẩm của những thị trường này rất lớn. Điều này buộc ngành nông nghiệp thực phẩm, các Doanh nghiệp sản xuất phải chú trọng các yêu cầu về logicstis, an toàn thực phẩm, chất lượng thực phẩm.

Bên cạnh đó, khả năng gắn kết của các chủ thể trong việc tiêu thụ và xuất khẩu nông sản thực phẩm từ sản xuất đầu vào, chế biến, tổ chức tiêu thụ, xuất khẩu, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm... cũng được các bên liên quan đặc biệt chú trọng.

Khó khăn, thách thức

Tuy nhiên, theo đánh giá của Oxford Economics khi ngành nông nghiệp thực phẩm có thể tạo ra động lực lớn cho sự phục hồi kinh tế Việt Nam sau đại dịch, thì những rủi ro cung - cầu, các biện pháp chính sách tài khóa và đại dịch kéo dài có thể gián đoạn đà phục hồi của nền kinh tế nói chung và ngành nông nghiệp thực phẩm nói riêng.

Ông James Lambert - Giám đốc Cố vấn Kinh tế châu Á của Oxford Economics chia sẻ: Để Việt Nam tiếp tục là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới, điều quan trọng là các nhà hoạch định chính sách phải tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các ngành kinh tế trong đó có ngành nông nghiệp thực phẩm vốn là thế mạnh phát triển với các chính sách tài khóa được hoạch định. Trong bối cảnh kinh tế năm 2021 được dự báo với nhiều khó khăn, Chính phủ Việt Nam cần phải lưu tâm đến điểm này khi đưa ra bất kỳ chính sách nào có thể tác động đến ngành nông nghiệp thực phẩm. Chẳng hạn việc tăng thuế bán hàng có thể làm giảm nhu cầu và phúc lợi của các hộ gia đình Việt Nam do thực phẩm và đồ uống hiện đang chiếm hơn 1/3 chi tiêu của hộ gia đình.

Giám đốc điều hành FIA, ông Matt Kovac, có cùng nhận định cần phải hiểu bối cảnh rủi ro hiện tại và trong tương lai để đón đầu cơ hội cho ngành nông nghiệp thực phẩm.

Theo ông Matt Kovac, báo cáo cũng nhấn mạnh một loạt thách thức lớn trong cả ngắn hạn và dài hạn mà ngành nông nghiệp thực phẩm Việt Nam phải đối mặt, và điều quan trọng là các nhà hoạch định chính sách phải nhận ra và giải quyết những thách thức này, đặc biệt với quy mô của ngành này trong việc đóng góp tạo việc làm và mức tăng trưởng GDP tại Việt Nam.

Theo ông, khi bối cảnh nền kinh tế năm 2021 được dự báo với nhiều khó khăn, Chính phủ Việt Nam cần phải lưu tâm đến điểm này khi đưa ra bất kỳ chính sách nào có thể tác động đến ngành.

Có cùng quan điểm nêu trên, ông James Lambert, Giám đốc Cố vấn Kinh tế châu Á của Oxford Economics, cho rằng để Việt Nam tiếp tục là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới, điều quan trọng là các nhà hoạch định chính sách phải tạo điều kiện thuận lợi nhất cho ngành nông nghiệp thực phẩm phát triển mạnh mẽ với các chính sách tài khóa được hoạch định, thiết kế và truyền đạt một cách cẩn thận. Do đó, ngành nông nghiệp thực phẩm có thể tiếp tục duy trì những lợi ích kinh tế đã gặt hái trong những thập kỷ vừa qua.

Ông Lambert cũng lưu ý rằng việc điều chỉnh chính sách tài khóa bao gồm việc tăng thuế bán hàng có thể làm giảm nhu cầu và phúc lợi của các hộ gia đình Việt Nam do thực phẩm và đồ uống không cồn hiện đang chiếm hơn một phần ba chi tiêu của hộ gia đình.

Báo cáo khuyến nghị rằng để xây dựng thành công các phản ứng tài khóa mà không kìm hãm sự phục hồi của ngành nông nghiệp thực phẩm, chính phủ Việt Nam cần đáp ứng ba điều kiện: định hướng tác động đến hành vi; ưu tiên các quy định tiêu chuẩn hơn là thuế và liên tục đối thoại với ngành.

An Chi