Tổng kiểm kê tài nguyên nước quốc gia, giai đoạn đến năm 2025

HÀ AN - NAM ANH 09/08/2021 15:34

Phó Thủ tướng Lê Văn Thành vừa ký Quyết định 1383/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tổng kiểm kê tài nguyên nước quốc gia, giai đoạn đến năm 2025.

Đề án sẽ công bố những chỉ tiêu kiểm kê tài nguyên nước. Ảnh: Nam Anh.

Để có được các chỉ tiêu kiểm kê lần đầu về tài nguyên nước, khai thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước, gồm: số lượng nguồn nước mặt (số lượng các sông, suối, kênh, rạch, hồ, đầm, phá); số lượng nguồn nước dưới đất (số lượng các tầng chứa nước); sượng nước mặt (tổng lượng dòng chảy; lượng nước mặt chảy vào, ra khỏi biên giới quốc gia; tổng lượng nước chuyển giữa các lưu vực sông và tổng dung tích các hồ chứa trên phạm vi cả nước và theo lưu vực sông), mới đây Chính phủ ký ban hành Quyết định số 1383/QĐ-TTg bao gồm Đề án “Tổng kiểm kê tài nguyên nước quốc gia, giai đoạn đến 2025”.

Theo đó, đề án trên được triển khai từ năm 2021 đến năm 2025, với mục tiêu chung là công bố được các chỉ tiêu kiểm kê tài nguyên nước (lần đầu) trên các lưu vực sông liên tỉnh và trên phạm vi cả nước trên cơ sở các thông tin, số liệu kiểm kê được thực hiện chính xác, đồng bộ, đúng thời gian.

Các số liệu kiểm kê về tài nguyên nước, khai thác sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước là số liệu quan trọng phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước, quy hoạch, điều hòa, phân bổ tài nguyên nước; làm cơ sở để hoàn thiện chính sách, pháp luật về tài nguyên nước và lập, điều chỉnh chiến lược, quy hoạch, kế hoạch khai thác sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, hướng tới việc đảm bảo an ninh tài nguyên nước, phát triển kinh tế - xã hội và chuyển đổi số quốc gia, cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực tài nguyên nước.

Được biết: Việt Nam là quốc gia có hệ thống sông ngòi dày đặc, với tổng dòng chảy nước mặt hằng năm từ 830 đến 840 tỷ m3. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên nước chỉ ở mức trung bình trên thế giới, với nhiều yếu tố không bền vững. Tổng lượng nguồn nước từ nước ngoài chảy vào Việt Nam chiếm khoảng 63%. Ðối với tài nguyên nước dưới đất, có tổng trữ lượng khoảng 189,3 triệu m3/ngày đêm, tập trung ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ và khu vực Tây Nguyên.

Nguồn nước mưa (tổng lượng mưa); Chất lượng nước mặt; Lượng nước dưới đất (trữ lượng tiềm năng; trữ lượng có thể khai thác trong các tầng chứa nước); Chất lượng nước dưới đất (chỉ số độ tổng khoáng hóa để xác định diện tích phân bố nước mặn; nước ngọt trong các tầng chứa nước); Khai thác, sử dụng nước mặt (danh mục các công trình khai thác, sử dụng; mục đích khai thác; lượng nước khai thác).

Khai thác, sử dụng nước dưới đất (danh mục các công trình khai thác, sử dụng; mục đích khai thác; lượng nước khai thác); Khai thác, sử dụng nước biển (danh mục công trình khai thác, sử dụng; mục đích khai thác; lượng nước khai thác); Xả nước thải vào nguồn nước (danh mục các công trình xả nước thải; lưu lượng xả vào nguồn nước; loại hình nước thải).

Đồng thời, đề án còn hướng đến mục tiêu cụ thể là xây dựng được phần mềm quản lý, cập nhật, khai thác dữ liệu kiểm kê tài nguyên nước quốc gia; và công bố được kết quả kiểm kê tài nguyên nước trong kỳ kiểm kê trên các lưu vực sông liên tỉnh và trên phạm vi cả nước.

Số liệu được công bố trên phạm vi cả nước

Việc tổng kiểm kê tài nguyên nước quốc gia được thực hiện và công bố số liệu trong kỳ kiểm kê trên phạm vi cả nước với đối tượng thực hiện là nguồn nước mặt, nguồn nước dưới đất, nguồn nước mưa, và các công trình khai thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước: các công trình khai thác, sử dụng nước mặt, nước dưới đất và nước biển; các công trình xả nước thải vào nguồn nước trên phạm vi đất liền và các đảo có khai thác, sử dụng nước.

Hồ Cấm Sơn thuộc địa bàn huyện Lục Ngạn (Bắc Giang). Ảnh: Hà An.

Để đạt được các mục tiêu nêu trên, Đề án thực hiện xây dựng nội dung, dự toán và kế hoạch chi tiết để thực hiện kiểm kê tài nguyên nước trên phạm vi cả nước, bảo đảm khả thi, hiệu quả, đồng bộ và tránh lãng phí nguồn lực; thu thập, kế thừa các thông tin, số liệu liên quan đến chỉ tiêu kiểm kê, điều tra cơ bản từ các giai đoạn trước và trong kỳ kiểm kê.

Xây dựng phần mềm quản lý, cập nhật, khai thác dữ liệu kiểm kê tài nguyên nước bảo đảm kết nối với cơ sở dữ liệu ngành tài nguyên môi trường và chuyển đổi số quốc gia; xây dựng các biểu mẫu, quy trình, phương pháp kiểm kê; tập huấn, chuyển giao và hướng dẫn sử dụng phần mềm, hướng dẫn kiểm kê.

Thực hiện kiểm kê các chỉ tiêu tại thực địa; tổng hợp, xử lý, phân loại thông tin, số liệu kết quả thu thập, điều tra thực địa và cập nhật số liệu vào phần mềm; kiểm tra, đối chiếu đối với từng chỉ tiêu kiểm kê tài nguyên nước; tổng hợp, công bố kết quả tổng kiểm kê tài nguyên nước quốc gia, giai đoạn đến năm 2025.

Xây dựng phần mềm quản lý thống nhất

Để đạt được các mục tiêu nêu trên, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương thực hiện xây dựng nội dung, dự toán và kế hoạch chi tiết để thực hiện kiểm kê tài nguyên nước trên phạm vi cả nước, bảo đảm khả thi, hiệu quả, đồng bộ và tránh lãng phí nguồn lực; thu thập, kế thừa các thông tin, số liệu liên quan đến chỉ tiêu kiểm kê, điều tra cơ bản từ các giai đoạn trước và trong kỳ kiểm kê.

Cụ thể, đối với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thủ tướng giao bộ này chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan và các địa phương xây dựng, phê duyệt nội dung, kế hoạch chi tiết để thực hiện Đề án trên phạm vi cả nước; xây dựng phần mềm quản lý, cập nhật, khai thác dữ liệu kiểm kê; chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện kiểm kê đảm bảo phù hợp với các mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ của Đề án.

Hồ Hàm Lợn thuộc địa bàn huyện Sóc Sơn (TP Hà Nội). Ảnh: Nam Anh.

Cùng với đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt chi tiết nội dung, dự toán kinh phí trong phạm vi bồ này thực hiện phù hợp với nội dung, nhiệm vụ của Đề án; thống nhất với Bộ Tài chính cân đối, bố trí kinh phí để thực hiện và tổ chức thực hiện việc kiểm kê đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, đúng quy định của pháp luật.

Các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công thương, Xây dựng, Giao thông vận tải, Khoa học và Công nghệ, Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) và các bộ, cơ quan liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường và các địa phương tổ chức thực hiện kiểm kê tài nguyên nước, thẩm định kết quả thực hiện Đề án.

Với các địa phương, Thủ tướng yêu cầu Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp với các bộ, ngành có liên quan triển khai xây dựng kế hoạch kiểm kê ở địa phương; tổ chức kiểm kê chỉ tiêu đối với nguồn nước mặt nội tỉnh; cập nhật kết quả kiểm kê vào phần mềm quản lý, khai thác dữ liệu kiểm kê tài nguyên nước do Bộ Tài nguyên và Môi trường cung cấp.

HÀ AN - NAM ANH