Xưng hô: Ứng biến để không ‘mất điểm’

PGS.TS PHẠM VĂN TÌNH 30/09/2022 07:16

Trong bất cứ một cuộc giao tiếp bằng ngôn từ nào, xưng hô luôn là nghi thức đầu tiên để “thiết lập một cuộc trao đổi”. Đến cơ quan, ra ngoài phố, gặp bạn bè, với người quen thì không có vấn đề gì, chứ nếu với người mới gặp, thì việc đầu tiên là ta phải “liếc mắt” xem đối tác thế nào để chọn một cách xưng hô sao cho phải. Ngay cả khi nghe điện thoại cố định (không phải là giao tiếp “mặt đối mặt”) thì sau tiếng “a lô” quen thuộc, ta sẽ phải nói: “Xin lỗi, ai ở đầu dây đấy ạ? Tôi là…” để tìm một cặp xưng hô phù hợp. Nếu không, rất có thể người nói rơi vào tình thế bị thất thố.

Xưng hô luôn là nghi thức đầu tiên để “thiết lập một cuộc trao đổi”. (Tranh mang tính trang trí).

“Xưng hô” là một từ Hán Việt. Theo “Từ điển tiếng Việt” (Trung tâm Từ điển học, NXB Đà Nẵng, 2020), "xưng hô" là “tự xưng mình và gọi người khác là gì đó khi nói với nhau để biểu thị tính chất của mối quan hệ với nhau”. Tiếng Việt có một hệ thống từ xưng hô đa dạng và phức tạp mà bất cứ ai khi “nhập” vào một tình huống giao tiếp cụ thể cũng cần phải biết quan sát, nhận định và chọn giải pháp.

Thực tế, hầu như sinh viên nước ngoài nào học tiếng Việt cũng phải mất một khoảng thời gian khá dài (vừa học vừa trải nghiệm) mới có khả năng giao tiếp bình thường (nhất là khi ra ngoài xã hội). Ngay cả người Việt, chả nói đâu xa, một cô dâu mới về nhà chồng, đi chào họ hàng, phải có ông chồng và mẹ chồng đi theo làm “hướng dẫn viên” chào cho đúng vai các ông bà, chú bác, anh em nội ngoại. Có những họ lớn, đông anh em, nhiều thế hệ, thì cô dâu, chú rể đi một lần không thể nào nhớ xuể. Chính điều này đã “gây khó” và làm rắc rối trong những tình huống xưng hô xã giao.

“Xưng hô”- theo “Từ điển tiếng Việt” là “tự xưng mình và gọi người khác là gì đó khi nói với nhau để biểu thị tính chất của mối quan hệ với nhau”. Tiếng Việt có một hệ thống từ xưng hô đa dạng và phức tạp mà bất cứ ai khi “nhập” vào một tình huống giao tiếp cụ thể cũng cần phải biết quan sát, nhận định và chọn giải pháp.

Xưng hô xã giao là xưng hô ngoài xã hội, trong bối cảnh người đối thoại thuộc nhiều tầng lớp, khác nhau về giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, địa vị… Ở đó, người nói và người nghe không bị ràng buộc bởi những tôn ti, trật tự trong gia tộc mà bình thường họ luôn phải tuân thủ. Nhưng nói như vậy, không phải là mọi chuyện xưng hô giữa “chín người mười làng” kia là đơn giản, dễ dàng. Cũng bởi, cách xưng hô gia tộc cả ngàn năm nay (ăn sâu vào tiềm thức, thói quen, phong tục) vẫn ảnh hưởng và chi phối (thậm chí lấn át) cách xưng hô xã giao. Còn bởi, người phương Đông (trong đó có người Việt) vốn trọng tình, trọng tuổi tác, vì vậy mà “không nỡ” dùng một cách xưng hô “căn ke” ngôn ngữ phương Tây, trung hòa hóa, bằng cách chuyển cặp “I - You” (ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba số ít) thành “Ông - Bà” khi đối mặt với đối tác (là nam nay nữ) bất luận là họ già hay trẻ, là sếp to hay sếp nhỏ, là bạn bè hay đồng nghiệp.

“Lời nói chẳng mất tiền mua” nhưng nói làm sao “cho vừa lòng nhau” không đơn giản. Cô sinh viên trẻ mới ra trường, gặp một giám đốc già, tóc bạc mà dám “gọi ông xưng tôi” ư? Hay “gọi chú xưng cháu”? Hay “gọi anh xưng em”, hay “gọi chú xưng em”? Thật là khó. Trẻ quá “mặt búng ra sữa” mà trước vị giám đốc bệ vệ mà lại gọi ông xưng tôi sẽ bị coi là xách mé, bất lịch sự. Gọi chú xưng cháu có khi làm sếp phật ý. Người mới đến, lại còn trẻ, chưa lịch duyệt rất khó nắm bắt tình huống để có một cách nói, cách gọi cho thích hợp. Cái buổi ban đầu bỡ ngỡ, cách xưng hô không khéo, không phù hợp sẽ “mất điểm” và có thể dẫn đến thất bại, bị “loại ngay từ vòng xưng hô”.

Thì đây, đã có một giải pháp tình thế: Xưng hô dùng chức danh.

“Chức danh” là “tên gọi thể hiện cấp bậc, quyền hạn và chức phận của mỗi người”. Về tư cách xã hội, ai cũng có một chức danh. Trong nhiều tình huống, cách gọi chức danh ai đó hoàn toàn chỉ có giá trị “định danh” đối tượng đang nói đến (mà hoàn toàn không có sắc thái biểu cảm):

- Này, bà bán xôi, cho tôi 10 ngàn xôi lạc nào!

- Bác tài ơi! Đến Cửa Nam bác cho hai mẹ con tôi xuống nhé!

- Bị cáo có biết mình đã phạm tội gì không?

- Cả tốp thợ hàn xuống đây chuyển sắt lên đã.

- Này, ông trọng tài, ông bắt thế mà được à?

Trong các tình huống trên, người nói không dùng đến các đại từ nhân xưng quen thuộc như ông, bà, anh, chị thường dùng mà sử dụng từ chỉ nghề nghiệp họ đang thực thi để gọi. Nó vừa tiện lợi (không mất thời gian xác lập tuổi tác) vừa thực tế (gọi đúng chức phận của họ, không nhầm với ai khác), mà người nghe lại cảm thấy được tôn trọng.

Thực tế bây giờ, trong các cuộc giao tiếp ở một môi trường đòi hỏi nghi thức xã giao: tại cuộc họp, chỗ đông người, trên truyền thông (truyền hình, truyền thanh, phỏng vấn báo chí…) thì người ta dùng ngay chức danh hiện có của “đương sự” để xưng gọi:

- Xin trân trọng kính mời Bộ trưởng Nguyễn Minh A. lên phát biểu.

- Chủ tịch có nghĩ rằng việc kéo dài giãn cách ở Hà Nội là thích hợp không ạ?

- Giáo sư từng quan tâm tới vấn đề chất lượng đào tạo sau đại học. Vậy Giáo sư có ý kiến gì về…

- Nếu trường hợp đó rơi vào mình, cô giáo sẽ xử lí thế nào với những học sinh vừa vi phạm nội quy?

Trước cử tọa (hay khán, thính giả) đa dạng, đông đảo và trong hoàn cảnh trang trọng, người nói dùng ngay chức danh của người đối thoại, vừa tránh được việc dùng từ xưng hô (rất có thể không thích hợp) vừa để “xác nhận và tôn vinh” chức vụ của họ đang đảm nhiệm. Nói tới chức vụ cũng còn có hàm ý nhắc nhở “đương sự” lưu ý tới chức trách của mình để phát ngôn sao cho phù hợp và không lạc đề. Trong những trường hợp xưng hô xã giao, người nói tránh các đại từ mang tính “biểu cảm, phân ngôi thứ” như “em, cháu, con”, sẽ không phù hợp và dễ bị phản ứng.

Giải pháp tình thế như vậy hay thực. Nhưng nói đi cũng phải nói lại. Rất nhiều trường hợp cần rút kinh nghiệm.

Thứ nhất, phải giới thiệu đúng chức danh của họ. Người là Giám đốc không thể gọi là Tổng giám đốc. Người là Phó giáo sư không thể phong thành Giáo sư. Người chỉ mới làm thơ mấy bài không thể gọi là nhà thơ. Cũng như ai đó tham gia viết đôi ba bài báo, sự nghiệp báo chí chưa có gì vẫn được gọi là nhà báo rất oai. Chắc người nói nghĩ “mình cứ phong đại lên thế cho “an toàn” và đương sự chắc “phổng mũi” mà cho qua”. Phải tìm hiểu để đưa ra một cách giới thiệu chức danh chính xác (vừa tôn trọng cử tọa và tôn trọng chính người đang nói đến).

Thứ hai, việc giới thiệu nên hạn chế trong một chức danh nào đó, tránh rườm rà. Một giáo sư nào đó có thể kiêm nhiều chức danh. Nhưng giới thiệu “giáo sư tiến sĩ” trong chủ đề bàn về giáo dục là được rồi. Còn các chức danh khác (mà ông ta có thực) như giảng viên cao cấp, nhà giáo ưu tú, thậm chí là nhạc sĩ, nghệ sĩ (nghiệp dư) nữa thì nên bỏ qua.

Có người giới thiệu: “Đây là đồng chí Đại tá, Phó Giáo sư-Tiến sĩ, bác sĩ, Thầy thuốc Ưu tú, Trưởng khoa Ngoại, chuyên gia mổ xương…” mà lẽ ra, lúc đầu chỉ cần nêu một chức danh chính, sau đó đến tình huống cụ thể nào (nói về chức vụ quản lí, nói về tình huống giải phẫu, nói về cống hiến đối với ngành…) thì dừng lại đưa thêm cho rõ hơn. Cách giới thiệu dài dòng không những rườm rà, làm mất thời gian mà còn làm cho cử tọa (và thậm chí đương sự) không hài lòng. Không ít người đã ngắt lời MC mà tự cải chính: “Xin lỗi! Tôi chỉ là Tiến sĩ, chưa là Phó Giáo sư”, “Tôi đang là Phó Giám đốc chứ không phải Giám đốc”, “Chị nói tôi là nhà văn làm tôi ngượng quá. Tôi mới có vài truyện ngắn đăng báo thôi mà”…

Vì vậy, cách xưng hô gọi tên chức danh có thể là một sáng tạo cần khuyến khích. Nhưng “thái quá như bất cập”. Chúng ta cần biết vận dụng sao cho thích hợp và tạo không khí giao tiếp trang trọng, thoải mái và có hiệu quả giao tiếp tích cực.

PGS.TS PHẠM VĂN TÌNH