Kinh tế

Phát triển xanh cần tín dụng xanh

Ngọc Quang 11/12/2023 08:28

Giai đoạn 2017-2022, tín dụng của hệ thống ngân hàng đối với các lĩnh vực xanh có mức tăng trưởng dư nợ bình quân đạt hơn 23%/năm. Tính đến 30/9/2023, dư nợ cấp tín dụng xanh đạt hơn 564 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng khoảng 4,4% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.

anhbenphai67.jpeg
Nguồn vốn cho các dự án xanh vẫn chưa thuận dòng. Ảnh: Thu Trang.

Đó là thông tin được bà Phạm Thị Thanh Tùng - Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết tại Hội thảo "Dẫn nguồn vốn lớn cho tín dụng xanh" tổ chức mới đây.

Trong số 12 lĩnh vực xanh được NHNN hướng dẫn các tổ chức tín dụng (TCTD) cho vay, dư nợ tập trung chủ yếu vào các ngành năng lượng tái tạo, năng lượng sạch (chiếm gần 45%) và nông nghiệp xanh (hơn 30%). Đáng chú ý, các TCTD đã tăng cường đánh giá rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng với dư nợ được đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đạt gần hơn 2,67 triệu tỷ đồng, chiếm hơn 21%/tổng dư nợ cho vay của nền kinh tế.

Theo NHNN, hiện vẫn chưa có quy định chung của quốc gia về tiêu chí, danh mục dự án xanh cho các ngành/lĩnh vực theo hệ thống phân ngành kinh tế. Việc đầu tư vào các ngành/lĩnh vực xanh thường đòi hỏi thời gian hoàn vốn dài, chi phí đầu tư lớn, trong khi nguồn vốn cho vay của các TCTD thường là vốn huy động ngắn hạn, khó khăn cho các TCTD trong việc cân đối vốn và bảo đảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn theo quy định…

Để tín dụng xanh phát triển, NHNN cho rằng tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, có hướng dẫn về danh mục xanh và tiêu chí xác định dự án xanh phù hợp với phân ngành kinh tế của Việt Nam làm cơ sở cho các TCTD có căn cứ thẩm định, đánh giá và giám sát khi thực hiện cấp tín dụng xanh.

Với những con số tín dụng được NHNN cung cấp, cho thấy tốc độ tăng trưởng tín dụng xanh ở mức bình quân 2 con số. Tuy nhiên, trong thực tế, nhu cầu tín dụng xanh vẫn rất lớn. Theo bà Lâm Thúy Nga - Giám đốc toàn quốc Khối khách hàng doanh nghiệp (DN) lớn, Ngân hàng HSBC cho biết, nhu cầu vốn tín dụng xanh vừa là xu hướng vừa là vấn đề sống còn của DN, nhất là đối với nhóm DN xuất khẩu đang chuyển đổi để phù hợp với thị trường quốc tế.

"Tuy nhiên, để các DN Việt Nam có thể đón nhận dòng vốn xanh thì còn nhiều yếu tố cần cải thiện, nhất là việc đáp ứng các quy chuẩn của thị trường tín dụng quốc tế” - theo bà Nga.

Để khơi thông nguồn vốn cho các lĩnh vực xanh, ông Nguyễn Bá Hùng - chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam cũng cho rằng, việc hoàn thiện khung pháp lý sẽ giúp tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển tài chính xanh và đồng thời cũng thúc đẩy phát triển thị trường tài chính nói chung, đặc biệt là thị trường vốn. Cần hoàn thiện cả khuôn khổ luật lệ cho các ngành kinh tế xanh nói chung, và phát triển thị trường tài chính thông thường để tạo nền tảng cho tài chính xanh. Các khuôn khổ này có thể bao gồm yêu cầu DN thực hiện báo cáo bắt buộc tự đánh giá tác động của mình đến các tiêu chí xanh.

Ở góc độ ngân hàng, đại diện Agribank đề nghị cần tiếp tục huy động các nguồn lực để thực hiện chính sách tín dụng xanh tại Việt Nam. Đặc biệt, tăng cường chủ động tiếp cận nguồn vốn quốc tế xanh thông qua các bộ, ban, ngành đầu mối hoặc tiếp cận trực tiếp các định chế tài chính, tổ chức phi chính phủ, huy động vốn qua hình thức phát hành trái phiếu xanh để tài trợ các dự án năng lượng tái tạo quy mô lớn, tiết kiệm năng lượng.

"Nếu chỉ một mình ngành ngân hàng thì không khác gì chúng ta “vỗ tay bằng một bàn tay” thì không thể thực hiện được chiến lược quan trọng này” - đại diện Agribank ví von.

Tại COP26 (hành động vì khí hậu, môi trường) năm 2021, Chính phủ Việt Nam đã có những cam kết quan trọng: đến năm 2030 Việt Nam sẽ giảm 9% tổng lượng phát thải khí nhà kính; đến năm 2040 sẽ loại bỏ dần sản xuất điện bằng nhiên liệu than. Đến năm 2050 sẽ đưa mức phát thải ròng về 0.

Để đạt những tiêu chí đó, theo ước tính, Việt Nam sẽ cần khoảng 368-380 tỷ USD, hay 6,8% GDP mỗi năm, cho đến năm 2040 để chuyển đổi sang nền kinh tế xanh và ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu. Đây là con số đòi hỏi rất nhiều thời gian cùng sự nỗ lực, chung tay của các tổ chức, DN và cộng đồng.

Xây dựng cơ sở hạ tầng để phát triển tín dụng xanh được coi là chìa khóa để mở cánh cửa một nền tài chính xanh vững mạnh. Với NHNN, điều đó có thể thực hiện sớm, nhưng với hệ thống ngân hàng thương mại thì sẽ không dễ dàng khi cấp tín dụng xanh. Đặc biệt khi chưa rõ căn cứ cụ thể trong việc xác định và phân loại dự án xanh. Điều đó gây khó khăn cho các ngân hàng thương mại trong việc lựa chọn, thẩm định, đánh giá và giám sát khi thực hiện cấp tín dụng xanh, vì có thể sẽ dẫn đến rủi ro.

Ngọc Quang