
Thế hệ trẻ là một trong những nền tảng quan trọng cho mục tiêu phát triển đất nước, trong đó chất lượng nguồn nhân lực trẻ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong bài viết "Tương lai cho thế hệ vươn mình", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhấn mạnh: “Khoảng thời gian từ 2025 đến 2045 chỉ còn đúng 20 năm. Những em bé được sinh ra trong quãng thời gian này sẽ là lớp thanh - thiếu niên của thế hệ mới, là chủ nhân tương lai của đất nước Việt Nam phát triển hưng thịnh. Để hướng tới năm 2045 với tầm nhìn về một Việt Nam phát triển toàn diện, việc định hướng phát triển con người, đặc biệt là thế hệ trẻ, trở thành ưu tiên chiến lược”.
Đặt trong tầm nhìn ấy, dinh dưỡng và sức khỏe học đường không còn chỉ là câu chuyện của một bữa ăn bán trú. Trong khi suy dinh dưỡng và thiếu vi chất vẫn hiện hữu ở một số địa bàn khó khăn, thừa cân, béo phì lại gia tăng tại khu vực đô thị. Bữa ăn học đường vì thế không chỉ cần đủ năng lượng mà còn phải đảm bảo dinh dưỡng hợp lý, đa dạng thực phẩm, phù hợp nhu cầu dinh dưỡng của từng nhóm tuổi, bảo đảm an toàn thực phẩm và gắn với hoạt động thể lực, giáo dục sức khỏe.

Khoa học đã chỉ ra rằng, khoảng 86% chiều cao tối đa và khoảng 80% sự phát triển trí não được hoàn thiện trong giai đoạn 2 - 12 tuổi, đây là giai đoạn quan trọng quyết định tầm vóc, thể lực và trí lực. Vì vậy, đầu tư cho sức khỏe trẻ em không chỉ giúp trẻ khỏe mạnh hiện tại mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực tương lai.
Anh hùng Lao động Thái Hương - Nhà Sáng lập, Chủ tịch Hội đồng Chiến lược Tập đoàn TH đặt vấn đề này trong một tầm nhìn rộng hơn khi cho rằng “dinh dưỡng học đường phải được định vị là hạ tầng mềm của quốc gia”. Theo bà, giáo dục toàn diện không thể chỉ dừng ở truyền thụ tri thức; trẻ em cần được bảo đảm nền tảng sức khỏe thông qua dinh dưỡng hợp lý, vận động khoa học và những thói quen sống lành mạnh.
“Mỗi ngày chậm trễ triển khai bữa ăn học đường là một ngày cơ hội lớn của trẻ em bị trôi qua. Dinh dưỡng học đường chính là tấm lá chắn công bằng nhất, bảo đảm mọi em nhỏ Việt Nam - từ trung tâm thủ đô đến miền núi xa xôi, từ làng biển đến cao nguyên đều có một điểm xuất phát công bằng trong hành trình làm người. Chỉ khi một thế hệ được nuôi dưỡng đầy đủ, Việt Nam mới thật sự có nền nhân lực vững chắc để đi xa và đi bền”, Anh hùng Lao động Thái Hương nhấn mạnh.

Từ tầm nhìn ấy, ngay từ ngày đầu thành lập, Tập đoàn TH luôn xác định việc đồng hành cùng các chương trình sức khỏe học đường là một trong những trách nhiệm và cam kết lâu dài của doanh nghiệp, Tập đoàn TH đã tiên phong triển khai các nghiên cứu sữa học đường bài bản theo lộ trình chuẩn quốc tế, từ xây dựng công thức dinh dưỡng đến nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng, phối hợp với Viện Dinh dưỡng Quốc gia thực hiện tại Nghệ An. Bộ Y tế xác nhận hiệu quả trong nghiên cứu cải thiện tình trạng dinh dưỡng và vi chất dinh dưỡng của trẻ em, là cơ sở thực tiễn để ban hành tiêu chuẩn Sữa học đường trong Đề án Sữa học đường Quốc gia, bằng Quyết định số 1340/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, góp phần giảm thiểu tình trạng đưa sữa không rõ nguồn gốc, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm vào trường học
Theo ông Phạm Thế Quyền - Giám đốc Nghiên cứu và Phát triển Tập đoàn TH, cách tiếp cận của TH đối với sức khỏe học đường ngày càng được mở rộng.
“Đầu tư cho dinh dưỡng không chỉ để các em học sinh hôm nay khỏe mạnh hơn, mà còn để Việt Nam ngày mai có một thế hệ công dân có đủ thể lực, trí lực và bản lĩnh để kiến tạo tương lai đất nước. Vì một Việt Nam khỏe mạnh - Vì tầm vóc Việt”, ông Quyền nhấn mạnh.

Nhận thức sâu sắc vai trò của dinh dưỡng trong vấn đề nâng cao thể trạng của người Việt, TH đã khởi xướng, đồng hành cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Dinh dưỡng - Bộ Y tế, các chuyên gia độc lập trong nước và quốc tế (Pháp và Nhật Bản), các cơ quan, ban ngành triển khai Mô hình điểm “Bữa ăn học đường bảo đảm dinh dưỡng hợp lý kết hợp tăng cường hoạt động thể lực cho trẻ em, học sinh, sinh viên Việt Nam” trong năm học 2020 - 2021. Đây là chương trình được triển khai trong khuôn khổ Đề án do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 41/QĐ-TTg ngày 8/1/2019.
Mô hình điểm được thực hiện tại 10 tỉnh, thành phố, đại diện cho 5 vùng sinh thái lớn trên cả nước (thành thị, nông thôn, đồng bằng, miền núi, miền biển), gồm: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Hưng Yên (tỉnh Thái Bình cũ), Đà Nẵng (tỉnh Quảng Nam cũ), Sơn La, Nghệ An, Huế, Lâm Đồng, An Giang.
Việc lựa chọn các địa bàn khác nhau về điều kiện kinh tế, nguồn thực phẩm và nề nếp sinh hoạt cho thấy Mô hình điểm không hướng tới một “thực đơn chung” áp dụng đồng loạt. Trước khi triển khai, Mô hình điểm đã tổ chức thực hiện khảo sát tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần, mức tiền ăn, cơ sở vật chất và năng lực tổ chức bữa ăn của từng trường.
Theo Viện Dinh dưỡng, bữa ăn trong Mô hình điểm được tiếp cận theo hướng ưu tiên sử dụng thực phẩm từ tự nhiên, tận dụng lợi thế về nông nghiệp của từng vùng; sữa tươi được đưa vào cấu phần bữa ăn một cách khoa học.

Nếu cần chọn một con số đại diện cho một trong những kết quả nổi bật của Mô hình điểm, đó có lẽ là 400 thực đơn. Nhưng giá trị của con số này không nằm đơn thuần ở số lượng, mà ở cách những thực đơn ấy được hình thành.
Các chuyên gia xây dựng 400 thực đơn mẫu bữa ăn học đường theo hướng đa dạng, có những bữa sử dụng trên 10 loại thực phẩm, cân đối tỷ lệ chất đạm, chất béo, chất đường bột, sử dụng hợp lý muối và đường, đồng thời điều chỉnh theo lứa tuổi, mùa và vùng địa lý. Bữa phụ có một ly sữa tươi nhằm cải thiện khẩu phần canxi.
Dinh dưỡng đồng thời được đặt song hành với vận động. Theo tài liệu tổng kết Mô hình điểm, ở bậc mầm non có 130 bài tập vận động, 60 trò chơi cùng hệ thống giáo án theo lứa tuổi; ở bậc tiểu học cũng xây dựng riêng các bài tập và trò chơi vận động. Mô hình đặt mục tiêu trên 80% học sinh có ít nhất 60 phút hoạt động thể lực mỗi ngày.

Vì thế, 400 thực đơn không đơn thuần là những “món ăn”, mà là một kết quả được hình thành từ quá trình nghiên cứu khoa học, bài bản, gắn với khả năng chi trả, nguồn thực phẩm và điều kiện tổ chức bữa ăn của từng địa phương trong khuôn khổ Mô hình điểm.
PGS.TS.BS Bùi Thị Nhung - Phó Chủ tịch Hội Tiết chế Dinh dưỡng, nguyên Trưởng Khoa Dinh dưỡng học đường và ngành nghề - Viện Dinh dưỡng Quốc gia là một trong những chuyên gia trực tiếp tham gia triển khai Mô hình điểm. Theo bà, giá trị của mô hình không chỉ nằm ở thực đơn mà còn ở việc đưa các điều kiện tổ chức bữa ăn vào kiểm nghiệm thực tế, từ nhân lực, cơ sở vật chất, kinh phí đến kiến thức chuyên môn và sự phối hợp với phụ huynh.
Theo bà Nhung, khi triển khai Mô hình điểm, nhiều điều kiện cần thiết để nhà trường tổ chức bữa ăn khoa học đã được đưa vào kiểm nghiệm trong thực tế, từ cơ sở vật chất, nhân lực, kiến thức chuyên môn đến kinh phí, giáo dục dinh dưỡng và sự phối hợp với phụ huynh.

Nhưng cũng chính quá trình ấy làm lộ rõ nhiều “điểm nghẽn”. Nhân lực là một trong những vấn đề lớn. Tại nhiều trường, nhân viên chế biến không thuộc biên chế, chủ yếu làm hợp đồng ngắn hạn với mức thu nhập thấp. Nhà trường vì vậy khó tuyển, giữ những người vừa có kỹ thuật nấu ăn vừa được trang bị kiến thức dinh dưỡng.
Bà Nhung nhớ lại: “Các thầy cô giáo, hiệu trưởng phải lăn lộn vào trong bếp để thực hành cùng với chúng tôi”. Khi nhân viên bếp thay đổi, chính giáo viên, cán bộ quản lý đã được tập huấn lại phải hỗ trợ hướng dẫn đội ngũ mới.
Cơ sở vật chất cũng là một thách thức. Có nơi ngay việc thay khay nhựa bằng khay inox để thuận lợi hơn cho bảo đảm vệ sinh cũng cần phụ huynh đóng góp. Ở những trường miền núi, bếp ăn có thể được hình thành tùy theo khả năng huy động nguồn lực, chưa có điều kiện chuẩn hóa đồng bộ.

Bài toán càng khó ở những địa bàn kinh tế hạn chế. Theo PGS.TS.BS Bùi Thị Nhung, thời điểm triển khai Mô hình điểm, có trường ở Sơn La, Thái Bình mức tiền ăn chỉ khoảng 12.000 đồng, tại Nghệ An có nơi khoảng 15.000 đồng. Trong giai đoạn can thiệp, mô hình từng hỗ trợ thêm khoảng 3.000 đồng ở một số điểm nhưng nguồn lực này không thể kéo dài mãi.
Ở một số trường khó khăn tại Sơn La, bếp chỉ có một đến hai người nấu; vì thiếu kinh phí thuê thêm nhân lực, phụ huynh phải thay nhau đến trường hỗ trợ chuẩn bị bữa ăn. Từ thực tế đó, bà Nhung cho rằng khi nguồn lực có hạn, chính sách cần ưu tiên trẻ nghèo, gia đình chính sách và những địa bàn đặc biệt khó khăn, thay vì hỗ trợ dàn trải.
Những khác biệt về kinh tế, nguồn thực phẩm, nhân lực và tập quán ăn uống cũng lý giải vì sao “phù hợp vùng miền” là nguyên tắc quan trọng của Mô hình điểm. Một khẩu phần khoa học không đồng nghĩa với việc trẻ ở Sơn La phải ăn giống trẻ ở An Giang. Thực đơn cần đáp ứng chuẩn dinh dưỡng nhưng đồng thời phải phù hợp nguồn thực phẩm, khẩu vị và điều kiện thực tế của địa phương.

Bên cạnh bữa ăn, PGS.TS.BS Bùi Thị Nhung đặc biệt nhấn mạnh giáo dục dinh dưỡng và sự kết nối giữa gia đình với nhà trường. Nếu kiến thức dinh dưỡng chỉ dừng trong gian bếp thì tác động sẽ rất hạn chế. Trẻ cần hiểu cách lựa chọn thực phẩm; giáo viên, nhân viên y tế cần nắm nguyên tắc cơ bản; còn cha mẹ phải hiểu vì sao khẩu phần của con cần thay đổi.
Những kết quả sau một năm triển khai cho thấy Mô hình điểm tạo ra thay đổi ở nhiều phương diện. Theo số liệu được PGS.TS Nguyễn Thanh Đề, khi đó là Vụ trưởng Vụ Giáo dục Thể chất - Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố, ở bậc mầm non chiều cao trung bình tăng 3,63 cm, cân nặng tăng 1,2kg, tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi giảm 1,1%; ở bậc tiểu học, chiều cao trung bình tăng 2,8cm, cân nặng tăng gần 1,5kg, nhận thức đầy đủ về bữa ăn hợp lý tăng 23,6%. Trên 95% trường đánh giá Mô hình điểm ở mức hiệu quả hoặc rất hiệu quả.
Điểm đáng chú ý hơn là mô hình tác động đồng thời tới khẩu phần, vận động, kiến thức, năng lực tổ chức của nhà trường và nhận thức của gia đình.

Kết quả tổng kết năm 2021 cũng cho thấy 100% cán bộ quản lý, nhân viên bếp, nhân viên y tế và 94,4% giáo viên tại các điểm triển khai được truyền thông hoặc tập huấn về dinh dưỡng hợp lý, xây dựng khẩu phần; 97,9% phụ huynh được truyền thông về dinh dưỡng, bữa ăn học đường và an toàn thực phẩm; 95,4% phụ huynh được khảo sát cho biết đã phối hợp với trường tăng cường hoạt động thể lực cho trẻ.
Tại hội nghị tổng kết, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Ngô Thị Minh khi đó ghi nhận kết quả là sự đóng góp của các chuyên gia, bộ, ngành, địa phương, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, đồng thời đánh giá cao “sự đồng hành rất có tâm vì trách nhiệm cộng đồng” của Tập đoàn TH. Phía TH đã tham gia khảo sát điều kiện cơ sở vật chất, hỗ trợ tập huấn, cải thiện bếp ăn, phòng tập và một phần kinh phí suất ăn tại những địa bàn khó khăn.
Trong giai đoạn sau đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục hoàn thiện hướng dẫn tổ chức bữa ăn học đường. Ngày 10/8/2022, Bộ ban hành Quyết định 2195/QĐ-BGDĐT phê duyệt Hướng dẫn công tác tổ chức bữa ăn học đường kết hợp tăng cường hoạt động thể lực cho trẻ em, học sinh trong các cơ sở giáo dục mầm non và tiểu học.
Ở góc độ chuyên môn, PGS.TS.BS Bùi Thị Nhung cho rằng thước đo quan trọng nhất vẫn là tính khả thi. Nhân rộng Mô hình điểm vì vậy không chỉ là đưa những thực đơn đã được xây dựng đến nhiều trường hơn, mà là tạo đủ điều kiện để mỗi trường có thể tổ chức bữa ăn khoa học và duy trì lâu dài.

Trong nhiều chương trình xã hội, đóng góp của doanh nghiệp thường được nhìn qua số tiền tài trợ hoặc số lượng sản phẩm trao tặng. Từ góc nhìn doanh nghiệp, bà Nguyễn Quỳnh Vân - Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng TH cho rằng, sự tham gia của doanh nghiệp không nên chỉ được nhìn ở câu chuyện tài trợ.
“Doanh nghiệp có thể đóng góp bằng kinh phí, bằng sản phẩm, nhưng như vậy vẫn chưa đủ. Từ thực tiễn nhiều năm đồng hành cùng các bộ, ngành, chúng tôi cho rằng doanh nghiệp còn có thể đóng góp bằng công nghệ, các mô hình và giải pháp được nghiên cứu khoa học, bài bản để hỗ trợ việc triển khai trong thực tế”, bà Vân nói.

Theo bà, giá trị của sự đồng hành nằm ở việc cùng khảo sát nhu cầu, xây dựng mô hình, chuyển giao giải pháp, đào tạo nhân lực và hỗ trợ nhà trường hình thành năng lực tự vận hành, thay vì chỉ cung cấp một nguồn lực trong thời gian ngắn.
Sự khác biệt thể hiện rất rõ khi đi xuống từng địa phương. Bà Nguyễn Quỳnh Vân cho biết có nơi suất ăn 35.000 - 40.000 đồng là bình thường, nhưng tại vùng khó khăn, để có một suất ăn khoảng 15.000 đồng đã là sự co kéo đáng kể của gia đình và nhà trường.
Bởi vậy, nếu doanh nghiệp chỉ cấp kinh phí hay sản phẩm rồi rút đi khi chương trình kết thúc, khả năng duy trì sẽ rất hạn chế. Theo bà Vân, điều quan trọng là để lại cho nhà trường năng lực vận hành: nhân viên bếp biết nguyên tắc chế biến, cán bộ y tế và giáo viên hiểu dinh dưỡng, phụ huynh biết phối hợp và địa phương có thể tiếp tục tổ chức khi nguồn tài trợ không còn.
Nói một cách hình ảnh, thay vì chỉ trao “con cá”, điều cần để lại là “cần câu” - kiến thức, kỹ năng, quy trình và kinh nghiệm triển khai.

Cũng từ cách nhìn ấy, xã hội hóa không thể chỉ là huy động thêm tiền. Bà Nguyễn Quỳnh Vân cho rằng cần tạo thành một nguồn lực chung, trong đó mục tiêu và tiêu chuẩn phải rõ; vai trò, trách nhiệm, nguồn lực của từng bên phải rõ; đồng thời có cơ chế phối hợp để theo dõi và đo lường kết quả.
Nhà nước kiến tạo chính sách; nhà trường trực tiếp tổ chức; gia đình duy trì thói quen; giới khoa học bảo đảm cơ sở chuyên môn; truyền thông cung cấp thông tin chính xác; doanh nghiệp có thể đóng góp tài chính, công nghệ, mô hình và kinh nghiệm vận hành. Khi những nguồn lực đó bổ trợ lẫn nhau, xã hội hóa mới có khả năng tạo tác động bền vững thay vì hình thành những dự án riêng lẻ.
Điều đáng chú ý là TH không dừng lại ở lĩnh vực dinh dưỡng mà tiếp tục mở rộng các hoạt động nhằm góp phần xây dựng hệ sinh thái sức khỏe học đường toàn diện.
Ở trụ cột vận động, Tập đoàn TH tiếp tục đồng hành cùng S-Race. Năm 2026, chương trình được triển khai với các hoạt động trực tiếp và trực tuyến hướng tới hơn 23 triệu học sinh tại 34 tỉnh, thành phố; S-Race đồng thời tổ chức các chiến dịch truyền thông về dinh dưỡng học đường và vận động khoa học. Tại lễ công bố S-Race 2026, Tập đoàn TH tiếp tục là đơn vị đồng hành, trong khi Quỹ Vì Tầm Vóc Việt tham gia với vai trò đối tác thiện nguyện.

Sự kết nối này có một logic rõ ràng: nếu Mô hình điểm đặt dinh dưỡng và vận động trong cùng một giải pháp can thiệp, S-Race tiếp tục đưa thói quen rèn luyện thể lực ra phạm vi cộng đồng rộng hơn, kết nối học sinh, nhà trường và gia đình.
Ở trụ cột môi trường học đường, Quỹ Vì Tầm Vóc Việt cùng Tập đoàn TH và BAC A BANK tham gia chương trình 1.000 công trình “Nhà vệ sinh cho em”, trị giá dự kiến 60 tỷ đồng, triển khai tại những địa bàn khó khăn trong giai đoạn 2021 - 2030. Chương trình không chỉ hướng đến xây mới, cải tạo công trình vệ sinh mà còn gắn với các hoạt động về nước sạch, vệ sinh cá nhân và môi trường.
Nếu dinh dưỡng cung cấp nền tảng cho phát triển thể chất thì nước sạch, vệ sinh và một môi trường học tập an toàn là những điều kiện không thể tách rời để bảo vệ sức khỏe học sinh.

Ở một lớp khác, triết lý phát triển con người toàn diện được TH thể hiện qua mô hình TH School. Nhà trường xác định năm giá trị cốt lõi gồm Vì hạnh phúc đích thực; Phát triển toàn diện; Tận tâm, lòng biết ơn và nhân văn; Tư duy toàn cầu; Tự hào Việt Nam. Trong đó, sức khỏe thể chất được đặt trong mối quan hệ với dinh dưỡng và hoạt động thể thao bên cạnh phát triển trí tuệ, cảm xúc và các mối quan hệ.
Song song, Tập đoàn TH và Viện Dinh dưỡng TH cũng tổ chức, đồng hành với các hội thảo khoa học về dinh dưỡng học đường, kết nối chuyên gia trong nước và quốc tế. Hội thảo quốc tế Dinh dưỡng người Việt lần II năm 2024, chẳng hạn, do Viện Dinh dưỡng và Hiệp hội Dinh dưỡng Nhật Bản đồng tổ chức với sự đồng hành của Tập đoàn TH và Viện Dinh dưỡng TH, quy tụ hơn 300 đại biểu.

Xâu chuỗi những hoạt động này, có thể thấy cách tiếp cận của TH không dừng ở một bữa ăn hay một sản phẩm, mà hướng tới những yếu tố có mối liên hệ chặt chẽ với sức khỏe học đường: dinh dưỡng, vận động, môi trường, vệ sinh và nhận thức của gia đình và toàn xã hội.
Đây cũng là điểm khiến dấu ấn của doanh nghiệp không nên chỉ được nhìn qua số lượng sản phẩm hay kinh phí tài trợ. Giá trị dài hạn hơn nằm ở việc doanh nghiệp tham gia cùng cơ quan quản lý, giới khoa học và nhà trường trong quá trình đưa một giải pháp xuống thực tế, phát hiện các “điểm nghẽn” và góp phần hình thành năng lực có thể duy trì sau khi chương trình hỗ trợ kết thúc.

Ngày 1/6/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 973/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026 - 2035. Chương trình tiếp tục mở rộng cách tiếp cận đối với sức khỏe người học, từ y tế trường học, dinh dưỡng, an toàn thực phẩm đến nước sạch, nhà vệ sinh, hoạt động thể lực và ứng dụng công nghệ.
Đáng chú ý, Quyết định 973 đặt nhiệm vụ nhân rộng mô hình bữa ăn học đường bảo đảm dinh dưỡng hợp lý kết hợp hoạt động vận động thể lực, đồng thời yêu cầu đánh giá tình trạng dinh dưỡng và tăng cường phối hợp với gia đình. Chương trình cũng định hướng ứng dụng chuyển đổi số trong đánh giá dinh dưỡng và xây dựng thực đơn cân bằng.
Tuy nhiên, nhiều cấu phần từng được kiểm nghiệm trong Mô hình điểm như thực đơn cân đối, vận động, giáo dục dinh dưỡng, phối hợp gia đình - nhà trường, nhân lực và cơ sở vật chất cũng là những vấn đề tiếp tục được đặt ra trong giai đoạn mới.
Từ kinh nghiệm triển khai, ông Phạm Thế Quyền cho rằng để chính sách thực sự đi vào từng trường học, cần đồng thời giải quyết nhiều nhóm vấn đề .

Trước hết là nhân lực và cơ sở vật chất. Phía TH đề xuất từng bước xác lập vị trí nhân sự có chuyên môn về dinh dưỡng trong nhà trường, đặc biệt ở cấp mầm non và tiểu học, có khả năng tham gia xây dựng thực đơn, giám sát chất lượng bữa ăn và phối hợp với phụ huynh, đơn vị cung cấp suất ăn. Đi cùng nhân lực là yêu cầu về bếp, dụng cụ, vệ sinh và điều kiện phục vụ hoạt động thể lực.
Đây cũng là những khó khăn PGS.TS.BS Bùi Thị Nhung ghi nhận tại thực địa. Khi nhân viên bếp thiếu ổn định, cơ sở vật chất và năng lực tổ chức khác nhau giữa các trường, những kiến thức được chuyển giao khó duy trì lâu dài.
Bên cạnh đó là bài toán tài chính. Ông Phạm Thế Quyền đề xuất nghiên cứu mức chi phí phù hợp cho bữa ăn học đường, làm rõ trách nhiệm giữa ngân sách nhà nước, gia đình và nguồn lực xã hội hóa. Với những địa bàn khó khăn, PGS.TS.BS Bùi Thị Nhung cho rằng cần có chính sách ưu tiên thay vì phân bổ nguồn lực cào bằng.

Chất lượng và tính minh bạch của nguồn cung cũng là một mắt xích quan trọng. Từ phía doanh nghiệp, TH đề xuất cơ chế công khai, minh bạch đối với sữa tươi và thực phẩm sử dụng trong trường học, đi kèm tiêu chí rõ ràng về an toàn, chất lượng và truy xuất nguồn gốc, xuất xứ.
Một yêu cầu khác là chuẩn hóa nhưng không đồng nhất. Khung chuyên môn có thể xác định các yêu cầu chung về năng lượng, nhóm chất và an toàn thực phẩm, nhưng thực đơn vẫn cần thích ứng với nguồn nguyên liệu, khẩu vị, văn hóa và điều kiện kinh tế từng địa phương. Một mô hình muốn đi xa phải vừa đủ chặt về chuyên môn, vừa đủ linh hoạt để có thể vận hành từ đô thị đến miền núi.
Cùng với đó, truyền thông và giáo dục dinh dưỡng cần được coi là một phần của giải pháp. Một thực đơn khoa học khó tạo tác động bền vững nếu cha mẹ không hiểu sự thay đổi trong khẩu phần, trẻ chưa hình thành thói quen ăn uống lành mạnh hay nhà trường chưa coi vận động là một cấu phần của sức khỏe học đường.

Xa hơn các giải pháp vận hành là câu chuyện hoàn thiện hành lang pháp lý.
Từ thực tế tham gia Mô hình điểm, PGS.TS.BS Bùi Thị Nhung cho rằng các hướng dẫn chuyên môn là cần thiết nhưng chưa đủ để bảo đảm chính sách được thực hiện đồng bộ và lâu dài.
“Trong tương lai, thay vì chỉ dừng ở các hướng dẫn, cần tiến tới những quy định pháp lý có tính bắt buộc. Tôi cho rằng Việt Nam nên hướng tới xây dựng Luật Bữa ăn học đường, như cách Nhật Bản đã làm, để tạo cơ sở pháp lý cho việc thực thi chính sách và từng bước cải thiện tình trạng dinh dưỡng của học sinh”, bà Nhung đề xuất.
Anh hùng Lao động Thái Hương cũng nhiều lần đề xuất nghiên cứu xây dựng Luật Dinh dưỡng học đường, coi đây là một “tấm khiên”, một “thành trì” để tạo nền tảng bảo vệ sức khỏe trẻ em, thay vì để chất lượng bữa ăn phụ thuộc quá lớn vào điều kiện của từng địa phương hay khả năng chi trả của từng gia đình.
Nhật Bản thường được giới chuyên môn dẫn như một kinh nghiệm tham khảo. Nước này ban hành School Lunch Law (Luật Bữa trưa học đường) vào năm 1954, sau đó tiếp tục hoàn thiện cơ chế hỗ trợ, cơ sở vật chất, nhân lực dinh dưỡng và mở rộng phạm vi chương trình qua nhiều thập kỷ. Điều đáng tham khảo không nằm ở việc sao chép nguyên mô hình của một quốc gia khác, mà ở tính liên tục của chính sách và việc xác định tương đối rõ trách nhiệm giữa Nhà nước, nhà trường và gia đình.

Việt Nam cũng đã có một lộ trình bài bản, các căn cứ nghiên cứu, đối chứng khoa học, chuyên nghiệp, đủ điều kiện để các cơ quan chức năng làm cơ sở thực tiễn cho ra đời Luật Dinh dưỡng học đường nhằm thể chế hóa đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần, nâng cao tầm vóc thế hệ trẻ.
Những vấn đề được phát hiện từ Mô hình điểm cho thấy một thực đơn khoa học chỉ là điểm khởi đầu. Đằng sau thực đơn còn là người nấu, gian bếp, ngân sách, nguồn thực phẩm, kiến thức của giáo viên, sự đồng thuận của phụ huynh và cơ chế giám sát.
Bởi vậy, giá trị của Mô hình điểm không chỉ nằm ở 400 thực đơn được xây dựng hay những thay đổi ghi nhận sau một năm. Quan trọng hơn là một quy trình đã được đưa vào thực tế: khảo sát trước khi can thiệp, thiết kế khẩu phần theo vùng miền, kết hợp dinh dưỡng với vận động, đào tạo người thực hiện, kết nối gia đình - nhà trường và đánh giá kết quả.
Bước sang giai đoạn mới, khi Chương trình Sức khỏe học đường 2026-2035 đặt ra yêu cầu ngày càng rõ hơn về dinh dưỡng, vận động và môi trường học đường, những kinh nghiệm tích lũy từ thực tiễn càng cần được tiếp tục kết nối với chính sách và nhân rộng trên cơ sở phù hợp với từng địa phương.
“Với tinh thần đó, Tập đoàn TH và Viện Dinh dưỡng TH cam kết tiếp tục đồng hành cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp trong các chương trình dinh dưỡng quốc gia”, ông Phạm Thế Quyền khẳng định.
Đó cũng là cách TH tiếp tục theo đuổi quan điểm mà Anh hùng Lao động Thái Hương nhiều lần nhấn mạnh: Những chính sách dinh dưỡng học đường không chỉ là câu chuyện của y tế hay giáo dục, mà là một khoản đầu tư căn cơ cho tương lai quốc gia. Từ những kinh nghiệm được tích lũy qua Mô hình điểm, hành trình ấy đang tiếp tục được mở rộng theo hướng toàn diện hơn, với mục tiêu góp phần để mỗi trẻ em Việt Nam có một nền tảng thể chất tốt hơn để học tập, phát triển và bước vào tương lai./.