Cần chiến lược ngăn chặn vi khuẩn kháng thuốc
Việt Nam là một trong những quốc gia đang phải đối mặt với mối đe dọa ngày càng gia tăng của tình trạng kháng kháng sinh, bắt nguồn từ việc sử dụng kháng sinh không cần thiết trong các trường hợp không nhiễm khuẩn, hoặc không hợp lý đối với từng loại vi khuẩn trong nhiều năm qua. Đặc biệt, trong điều trị nhiễm khuẩn hô hấp cộng đồng, một số trường hợp buộc phải sử dụng kháng sinh liều cao cho trẻ em.
Dù Việt Nam được đánh giá cao về những nỗ lực trong phòng, chống kháng thuốc, tình trạng lạm dụng và sử dụng kháng sinh không hợp lý vẫn còn phổ biến, từ việc tự mua thuốc khi chưa có chỉ định, dùng thuốc không đủ liều, đến chia sẻ thuốc cho người khác, những hành vi tưởng chừng nhỏ nhưng đang góp phần làm suy giảm hiệu lực của kháng sinh.
Theo PGS.TS Phạm Tuấn Cảnh - Phó Chủ tịch Hội Tai mũi họng Việt Nam, nhiễm khuẩn tai mũi họng và viêm phổi cộng đồng là các bệnh lý hô hấp phổ biến ở người lớn, đóng góp đáng kể vào số ca nhập viện và tử vong, đặc biệt ở nhóm người cao tuổi và người có bệnh nền. Các dữ liệu hiện nay cho thấy, chủng vi khuẩn phế cầu gây bệnh hô hấp đang giảm đáng kể mức độ nhạy cảm với các kháng sinh thuộc nhóm cephalosporin thế hệ 2 và macrolide. Đây là dấu hiệu cho thấy tình trạng kháng thuốc ngày càng phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa xét nghiệm vi sinh và lựa chọn kháng sinh hợp lý trong thực hành lâm sàng.
Các chuyên gia cho rằng, kiểm soát kháng kháng sinh cần được tiếp cận một cách toàn diện, đặc biệt tại ba lĩnh vực sử dụng kháng sinh nhiều nhất là hô hấp, tai mũi họng và nhi khoa. Việc xây dựng chiến lược quản lý nhiễm khuẩn hiệu quả cần dựa trên dữ liệu vi sinh cập nhật tại các bệnh viện, các nghiên cứu giám sát kháng thuốc như chương trình SOAR, cũng như các khảo sát hành vi sử dụng thuốc. Bên cạnh đó, đồng bộ hóa hướng dẫn điều trị và triển khai các chương trình đào tạo cho nhân viên y tế ở mọi tuyến được xác định là yếu tố then chốt nhằm bảo vệ hiệu quả kháng sinh trong dài hạn.
Theo TS Nguyễn Tri Thức - Thứ trưởng Bộ Y tế, tình trạng vi sinh vật kháng thuốc đang trở thành vấn đề y tế cấp bách toàn cầu. Thực trạng này làm tăng thời gian nằm viện, chi phí điều trị và tỷ lệ biến chứng nặng dẫn đến tử vong cho bệnh nhân, gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cộng đồng.
Do đó, việc sử dụng kháng sinh không chỉ đòi hỏi sự chính xác về loại thuốc, liều lượng mà còn phải cân nhắc dựa trên tình trạng cụ thể của từng bệnh nhân, ở từng điều kiện khác nhau. Sự phối hợp chặt chẽ giữa bác sĩ lâm sàng, bác sĩ vi sinh và dược sĩ lâm sàng sẽ giúp đưa ra phương hướng lựa chọn sử dụng kháng sinh một cách hợp lý nhất, giảm tác dụng phụ do thuốc gây ra và ngăn chặn sự lan rộng của vi sinh vật kháng thuốc.
Bên cạnh chú trọng nâng cao hiệu quả điều trị, việc kịp thời phát hiện và ngăn chặn nhiễm trùng đa kháng cũng là một vấn đề quan trọng. Điều này sẽ giúp các bệnh viện có thể tránh được nguy cơ khủng hoảng y tế do dịch bệnh bùng phát xảy ra. Đây cũng là hoạt động thuộc kế hoạch hành động quốc gia của Bộ Y tế về phòng chống kháng thuốc tại Việt Nam giai đoạn 2023 – 2030.
Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Tri Thức, chiến lược quản lý, tối ưu hóa sử dụng kháng sinh, công cụ chẩn đoán nhanh, phối hợp đa chuyên ngành trong điều trị nhiễm trùng đa kháng là bước quan trọng để đối phó với vấn đề này.
Trong khi đó, PGS.TS Trần Minh Điển - Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương, Chủ tịch Hội Nhi khoa Việt Nam dẫn chứng, dữ liệu của Bệnh viện Nhi Trung ương cho thấy, bệnh hô hấp chiếm tỷ lệ nhập viện cao nhất từ năm 2020 - 2024 và có xu hướng gia tăng mỗi năm. Các chủng vi khuẩn gây viêm phổi cộng đồng ở trẻ em tại miền Bắc Việt Nam đa số có tỷ lệ kháng cao với nhóm beta-lactam thông thường và macrolide - những kháng sinh được kê đơn phổ biến hiện nay.
Do đó, chiến lược quản lý kháng sinh trong nhi khoa cần dựa trên khung phân loại của Tổ chức Y tế thế giới. Khung này gồm 3 nhóm kháng sinh: nhóm tiếp cận, nhóm theo dõi và nhóm dự trữ, với mục tiêu kê đơn đúng và hợp lý. Bên cạnh tuân thủ chiến lược quản lý và sử dụng kháng sinh, cần thúc đẩy chiến lược chẩn đoán nhằm chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh, giúp chỉ định kháng sinh đúng và đủ, giảm bớt kê đơn kháng sinh với các trường hợp nhiễm virus.