Báo Đại Đoàn Kết Tư vấn pháp luật

Căn cứ nào để được đề nghị giám đốc thẩm vụ án hình sự

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Căn cứ nào để được đề nghị giám đốc thẩm vụ án hình sự

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News
Căn cứ nào để được đề nghị giám đốc thẩm vụ án hình sự

Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án đã có hiệu lực gồm: Kết luận trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án…

Phải chứng minh được vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng

Giám đốc thẩm vụ án hình sự là việc xét lại bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án. (theo Điều 370 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Về phạm vi giám đốc thẩm vụ án hình sự, Điều 387 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định Hội đồng giám đốc thẩm vụ án hình sự phải xem xét toàn bộ vụ án hình sự mà không chỉ hạn chế trong nội dung của kháng nghị.

Theo luật sư Huỳnh Phương Nam, Chủ nhiệm Đoàn luật sư TP Hà Nội, quy định tại Điều 371 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, bản án, quyết định hình sự của tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong các căn cứ: Kết luận trong bản án, quyết định hình sự của tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án; Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

Căn cứ theo quy định tại Điều 373 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm vụ án hình sự bao gồm: Chánh án Tòa án nhân dân (TAND) tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân (KSND) tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa Phúc thẩm TAND tối cao, TAND cấp tỉnh; bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.

Chánh án Tòa án quân sự trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án quân sự cấp quân khu, tòa án quân sự khu vực.

Chánh án TAND cấp tỉnh, Viện trưởng Viện KSND cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND khu vực trong phạm vi tỉnh, thành phố.

Thủ tục giám đốc thẩm vụ án hình sự được quy định có lợi cho người bị kết án. Ảnh: Gia Bảo.
Thủ tục giám đốc thẩm vụ án hình sự được quy định có lợi cho người bị kết án. Ảnh: Gia Bảo.

Luật sư Huỳnh Phương Nam phân tích, theo quy định tại Điều 382 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, thẩm quyền giám đốc thẩm vụ án hình sự được quy định như sau: Giám đốc thẩm vụ án hình sự bằng Hội đồng xét xử gồm 05 Thẩm phán đối với bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa Phúc thẩm TAND tối cao, TAND cấp tỉnh, Tòa án quân sự trung ương bị kháng nghị.

Giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật quy định tại mục 4.1 nhưng có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định hình sự đã được Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm 05 Thẩm phán nhưng không thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án.

Khi Hội đồng toàn thể Thẩm phán TAND tối cao xét xử giám đốc thẩm vụ án hình sự thì phải có ít nhất ⅔  tổng số thành viên tham gia, do Chánh án TAND tối cao làm chủ tọa phiên tòa. Quyết định của Hội đồng toàn thể Thẩm phán TAND tối cao phải được quá nửa tổng số thành viên Hội đồng biểu quyết tán thành; nếu không được quá nửa tổng số thành viên của Hội đồng toàn thể Thẩm phán tán thành thì phải hoãn phiên tòa.

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa thì Hội đồng toàn thể Thẩm phán phải mở phiên tòa xét xử lại vụ án.

Đối với Giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật của tòa án quân sự cấp quân khu, tòa án quân sự khu vực bị kháng nghị. Khi xét xử giám đốc thẩm vụ án hình sự thì phải có ít nhất ⅔  tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương tham gia, do Chánh án Tòa án quân sự trung ương làm chủ tọa phiên tòa. Quyết định của Ủy ban Thẩm phán phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; nếu không được quá nửa tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm phán tán thành thì phải hoãn phiên tòa.

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa thì Ủy ban Thẩm phán phải mở phiên tòa xét xử lại vụ án.

Giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực

Luật sư Nguyễn Thị Yến, Đoàn luật sư TP Hà Nội phân tích, giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật của TAND khu vực bị kháng nghị phải tuân thủ theo nguyên tắc sau.

Khi xét xử giám đốc thẩm vụ án hình sự thì phải có ít nhất 2/3 tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm phán TAND cấp tỉnh tham gia, do Chánh án TAND cấp tỉnh làm chủ tọa phiên tòa. Quyết định của Ủy ban Thẩm phán phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; nếu không được quá nửa tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm phán tán thành thì phải hoãn phiên tòa. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa thì Ủy ban Thẩm phán phải mở phiên tòa xét xử lại vụ án.

Trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án hình sự, tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm vụ án hình sự phải mở phiên tòa. Ảnh: G.B.
Trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án hình sự, tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm vụ án hình sự phải mở phiên tòa. Ảnh: G.B.

Đối với bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của các cấp khác nhau thì Hội đồng Thẩm phán TAND dân tối cao giám đốc thẩm toàn bộ vụ án hình sự.

Chánh án TAND tối cao kháng nghị giám đốc thẩm vụ án hình sự thì quyết định kháng nghị giám đốc thẩm vụ án hình sự kèm theo hồ sơ vụ án phải gửi ngay cho tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm vụ án hình sự.

Trường hợp Chánh án TAND cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự trung ương kháng nghị thì quyết định kháng nghị giám đốc thẩm vụ án hình sự kèm theo hồ sơ vụ án phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.

Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm vụ án hình sự phải gửi quyết định kháng nghị giám đốc thẩm vụ án hình sự kèm theo hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải gửi lại hồ sơ vụ án cho Tòa án.

Trường hợp Viện trưởng Viện KSND tối cao, Viện trưởng Viện KSND cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương kháng nghị thì quyết định kháng nghị giám đốc thẩm vụ án hình sự kèm theo hồ sơ vụ án phải gửi ngay cho tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm vụ án hình sự.

Luật sư Nguyễn Thị Yến nhấn mạnh, trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án hình sự, tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm vụ án hình sự phải mở phiên tòa.

Căn cứ theo quy định tại Điều 379 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm vụ án hình sự được quy định như sau: Việc kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án chỉ được tiến hành trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; Việc kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án có thể được tiến hành bất cứ lúc nào, cả trong trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ; Việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Nếu không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thì người có quyền kháng nghị phải trả lời bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã kiến nghị biết rõ lý do của việc không kháng nghị.

Khắc Hạnh