Cần làm rõ cơ chế để TP Cần Thơ phát huy vai trò điều phối liên kết vùng
Đó là ý kiến đóng góp của đại biểu PGS.TS Đào Duy Huân tại hội nghị đóng góp ý kiến Dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định cơ chế, chính sách phát triển TP Cần Thơ.
Chiều ngày 21/9, Thành uỷ Cần Thơ tổ chức hội nghị đóng góp ý kiến Dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định cơ chế, chính sách phát triển TP Cần Thơ.

Nghị định quy định cơ chế, chính sách phát triển TP Cần Thơ nhằm xác định cụ thể phạm vi các cơ chế, chính sách tại Luật Phát triển đô thị được áp dụng cho thành phố, bảo đảm phù hợp với điều kiện đặc thù, định hướng phát triển và năng lực thực thi của địa phương; đồng thời tạo cơ sở pháp lý để phát huy tiềm năng, lợi thế và vai trò trung tâm của TP Cần Thơ đối với vùng ĐBSCL.
Báo cáo tóm tắt quá trình xây dựng dự thảo, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP Cần Thơ Lê Công Lý cho biết: việc xây dựng Nghị định nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP Cần Thơ và Nghị quyết số 13-NQ/TW về phát triển vùng ĐBSCL; thực hiện nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ I đã xác định.

Dự thảo Nghị định gồm 2 phần nội dung, phần 1 là các cơ chế, chính sách lựa chọn áp dụng theo Luật Phát triển đô thị; phần 2 là các chính sách đặc thù riêng có của Cần Thơ, ngoài phạm vi điều chỉnh của Luật, với 3 chính sách gồm: Trung tâm liên kết, sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp vùng ĐBSCL (kế thừa Nghị quyết 45); ưu đãi, hỗ trợ kinh phí sử dụng và cho thuê trực tiếp tài sản kết cấu hạ tầng khoa học và công nghệ không qua đấu giá; xử lý đất nông, lâm trường.
Về việc đề xuất 2 phương án. Trong đó, phương án 1, là chỉ áp dụng Nhóm 1 với 30 Điều, 111 khoản, có tính khả thi cao, triển khai được ngay khi Nghị định có hiệu lực, nhưng chưa bao quát các chính sách tạo động lực dài hạn.
Phương án 2 là áp dụng cả Nhóm 1 và Nhóm 2 với 32 Điều, 133 khoản, phương án này sẽ bảo đảm đầy đủ, đồng bộ, tạo dư địa chính sách cho cả giai đoạn 2026 - 2030 và các năm tiếp theo, tránh phải sửa đổi Nghị định nhiều lần; hạn chế là một số khoản chỉ phát huy hiệu quả khi đủ điều kiện về hạ tầng, dự án, bộ máy hoặc có văn bản hướng dẫn. Theo đó, UBND thành phố kiến nghị lựa chọn Phương án 2.
Đồng thời, hội nghị cũng lấy ý kiến thảo luận đối với 6 nhóm vấn đề về: Sự cần thiết và lựa chọn phạm vi cơ chế, chính sách; Các Điều còn có ý kiến khác nhau và việc điều chỉnh phân nhóm; Cơ chế tài chính, ngân sách và huy động nguồn; Chương III của Luật về khu kinh tế đặc biệt; Các chính sách đặc thù riêng; Điều kiện bảo đảm thi hành và cơ chế chuyển tiếp. Với trọng tâm là quyết định lựa chọn phương án áp dụng cơ chế, chính sách làm cơ sở hoàn thiện dự thảo Nghị định.

Hội nghị đã ghi nhận 89 ý kiến đóng góp, tập trung đa dạng các lĩnh vực: Khoa học công nghệ, chuyển đổi số, văn hoá, xã hội, y tế, giáo dục, đầu tư và cơ chế ưu đãi,…Trong đó, có 26 ý kiến phù hợp, 44 ý kiến cần làm rõ; 18 góp ý chưa đủ căn cứ, 1 ý kiến vượt thẩm quyền.

Góp ý kiến vào dự thảo Nghị định, PGS.TS Đào Duy Huân, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nam Cần Thơ đánh giá dự thảo nghị định đã tiếp cận toàn diện các vấn đề phát triển của thành phố.
Tuy nhiên, Dự thảo đã đề cập đến liên kết vùng ở nhiều điều khoản, đặc biệt là logistics và Trung tâm liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp vùng, nhưng chưa hình thành thật rõ cơ chế để Cần Thơ đóng vai trò điều phối liên kết vùng.

Theo PGS.TS Đào Duy Huân, các nghiên cứu đã chỉ ra Cần Thơ có vị trí đặc biệt trong vùng ĐBSCL nhưng nhiều hoạt động kinh tế vẫn được tổ chức theo ranh giới địa phương. Trong khi đó, các chuỗi giá trị về nông nghiệp, thủy sản, logistics, thương mại, du lịch, đào tạo và khoa học - công nghệ có phạm vi vượt ra ngoài địa giới thành phố.
Qua đó, Ông Huân kiến nghị bổ sung quy định theo định hướng logic “TP Cần Thơ là đầu mối liên kết vùng ĐBSCL về logistics, nông nghiệp - thủy sản, thương mại, dịch vụ, du lịch, khoa học - công nghệ, giáo dục và y tế; được chủ trì hoặc phối hợp với các địa phương trong vùng xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án liên kết vùng theo quy định của pháp luật.”

Tại hội nghị, theo các doanh nghiệp, quy hoạch cần tính ổn định, có khả năng dự báo và cơ chế chuyển tiếp rõ ràng khi quy hoạch thay đổi để giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư. Kết nối đồng bộ hạ tầng đường bộ, đường thủy, cảng biển; tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia đầu tư hạ tầng Trung tâm liên kết sản xuất tiêu thụ nông sản ĐBSCL theo chuỗi liên kết.
Phía doanh nghiệp cũng đề xuất thành phố nghiên cứu cơ chế chuẩn bị sẵn quỹ đất tại các khu vực chiến lược như khu công nghiệp, đô thị, logistics, cảng biển… để triển khai dự án nhanh khi có nhà đầu tư. Quy hoạch khu công nghiệp cần gắn liền với khu phức hợp đồng bộ (nhà ở công nhân/chuyên gia, trường học, y tế, dịch vụ)…
Phát biểu kết luận hội nghị, ông Nguyễn Tuấn Anh, Phó Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn đại biểu quốc hội TP Cần Thơ đánh giá các ý kiến đóng góp đã tập trung vào hai nhóm chính: góp ý chung về các chính sách phục vụ xây dựng, phát triển thành phố và góp ý trực tiếp đối với dự thảo Nghị định.
Ông Nguyễn Tuấn Anh đề nghị các cơ quan liên quan tiếp tục rà soát, phân loại, nghiên cứu đầy đủ các ý kiến đóng góp; đồng thời nhấn mạnh việc xây dựng hồ sơ phải bảo đảm đầy đủ căn cứ chính trị, pháp lý và thực tiễn.
Trong đó, cần rà soát, bổ sung các nội dung phù hợp với Nghị quyết số 59-NQ/TW; đồng thời tổng kết, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết số 45/2022/QH15, làm rõ những nội dung đã thực hiện được, những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân để có cơ sở đề xuất chính sách mới,...