Báo Đại Đoàn Kết Thị trường

Chính sách thuế và đầu tư với doanh nghiệp FDI: Từ hiểu đúng đến tuân thủ hiệu quả

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Chính sách thuế và đầu tư với doanh nghiệp FDI: Từ hiểu đúng đến tuân thủ hiệu quả

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Ngày 28/9, tại Hà Nội, Cục Thuế (Bộ Tài chính) tổ chức Hội thảo chuyên đề "Chính sách thuế và đầu tư đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - Đồng hành, minh bạch, tuân thủ".

Ông Mai Xuân Thành, Cục trưởng Cục Thuế phát biểu khai mạc. Ảnh: MOF.
Ông Mai Xuân Thành, Cục trưởng Cục Thuế phát biểu khai mạc. Ảnh: MOF.

Hội thảo được tổ chức trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục hoàn thiện thể chế, triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời thực hiện các quy định mới của Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, các văn bản hướng dẫn thi hành và các cam kết, chuẩn mực quốc tế về minh bạch và hợp tác thuế.

Minh bạch phải đến từ hai phía

Ông Mai Xuân Thành, Cục trưởng Cục Thuế cho biết, sau gần 40 năm thu hút đầu tư nước ngoài, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và chuyển giao công nghệ tại Việt Nam.

Tuy nhiên, bước sang giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là thu hút bao nhiêu vốn đầu tư mà quan trọng hơn là thu hút dòng vốn như thế nào, tạo ra giá trị gì và đóng góp ra sao cho sự phát triển lâu dài, bền vững của nền kinh tế. Yêu cầu với chất lượng đầu tư thay đổi, đòi hỏi chính sách và phương thức quản lý nhà nước cũng cần tiếp tục hoàn thiện tương ứng, trong đó, chính sách thuế, chính sách đầu tư và quản lý thuế có vai trò quan trọng.

Trong những năm qua, việc xây dựng và hoàn thiện chính sách thuế được triển khai theo Chiến lược cải cách thuế đến năm 2030, gắn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, cơ cấu lại nguồn thu NSNN, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và chủ động hội nhập quốc tế. Định hướng xuyên suốt là xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, minh bạch, công bằng, phù hợp với thông lệ quốc tế; mở rộng cơ sở thu, bao quát các hoạt động và nguồn thu mới; hiện đại hóa quản lý thuế trên nền tảng dữ liệu, công nghệ và quản lý rủi ro, qua đó, đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí tuân thủ và hỗ trợ người nộp thuế tuân thủ tự nguyện. Trên nền tảng đó, pháp luật về quản lý thuế cùng các cơ chế về Hiệp định thuế, cơ chế thỏa thuận song phương (MAP), thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế (APA), giao dịch liên kết và trao đổi thông tin tiếp tục được hoàn thiện. Mục tiêu là hình thành khuôn khổ quản lý thuế hiện đại, trong đó cơ quan thuế quản lý hiệu quả hơn, doanh nghiệp có đủ thông tin và cơ chế để nhận diện đúng nghĩa vụ, quản trị rủi ro và chủ động tuân thủ ngay từ đầu.

Đối với khu vực FDI, hoạt động của doanh nghiệp không còn giới hạn trong phạm vi một quốc gia. Một giao dịch có thể liên quan đến nhiều chủ thể, nhiều thị trường và nhiều hệ thống pháp luật thuế. Giao dịch liên kết, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, thủ tục thỏa thuận song phương, thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế, trao đổi thông tin và minh bạch dữ liệu vì vậy ngày càng gắn trực tiếp với hoạt động quản trị thuế của doanh nghiệp.

Bà Roux Eloïse, đại diện phái đoàn Liên minh Châu Âu (EU) tại Việt Nam phát biểu. Ảnh: MOF.
Bà Roux Eloïse, đại diện phái đoàn Liên minh Châu Âu (EU) tại Việt Nam phát biểu. Ảnh: MOF.

Theo Cục trưởng Cục Thuế: minh bạch là yêu cầu từ hai phía. Về phía doanh nghiệp, cơ quan thuế mong muốn doanh nghiệp chủ động quản trị tuân thủ; bảo đảm hồ sơ, dữ liệu và thông tin phản ánh trung thực bản chất hoạt động, giao dịch; đồng thời, trao đổi sớm với cơ quan thuế khi có vấn đề phức tạp hoặc chưa rõ.

Về phía cơ quan thuế, cơ quan thuế luôn xác định rõ trách nhiệm của mình. Nếu yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, nhất quán thì chính sách, thủ tục và yêu cầu quản lý cũng phải được công khai, hướng dẫn rõ ràng, thống nhất và kịp thời.

Chuyển mạnh sang chất lượng và hiệu quả đầu tư

Theo ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) cho biết, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng khẳng định vai trò là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế, có đóng góp tích cực vào tăng trưởng, xuất khẩu, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, đồng thời góp phần đưa Việt Nam tham gia ngày càng sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Những kết quả đó khẳng định chủ trương thu hút và hợp tác với đầu tư nước ngoài của Chính phủ Việt Nam là đúng đắn, qua đó tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả của khu vực kinh tế này trong giai đoạn phát triển mới.

Tuy nhiên, cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia ngày càng gia tăng, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang làm thay đổi nhanh chóng các chuỗi cung ứng và mô hình sản xuất toàn cầu. Việt Nam đang đứng trước yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ của nền kinh tế. Việc tiếp tục thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài vẫn hết sức cần thiết nhưng mục tiêu không còn chỉ là thu hút thêm bao nhiêu vốn hay thêm bao nhiêu dự án, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của dòng vốn, gắn kết chặt chẽ hơn khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với năng lực nội sinh và các mục tiêu phát triển dài hạn của đất nước.

Ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài phát biểu. Ảnh: MOF.
Ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài phát biểu. Ảnh: MOF.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, ngày 8/6/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, Nghị quyết đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ chú trọng quy mô, số lượng sang chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng của đầu tư nước ngoài; ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Cùng với đó là yêu cầu tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, qua đó nâng cao năng lực hấp thụ và sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam….

Đây cũng là thông điệp quan trọng mà Chính phủ Việt Nam muốn gửi tới cộng đồng nhà đầu tư quốc tế đang hiện diện và đồng hành với Việt Nam trong nhiều năm qua. Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ trương mở cửa, hợp tác và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư nước ngoài, đồng thời mong muốn nâng tầm quan hệ hợp tác theo hướng cùng đầu tư, cùng phát triển và cùng tạo ra những giá trị lâu dài.

Ngay sau đó, ngày 22/9/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 280/NQ-CP về Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW. Chính phủ đã giao 61 nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ, ngành và địa phương. Bộ Tài chính được giao 22 nhiệm vụ trọng tâm, trong đó có 14 nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến quản lý, thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài và 8 nhiệm vụ liên quan đến phát triển thị trường vốn, thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài.

Thời gian qua, theo chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ Tài chính, Cục Đầu tư nước ngoài đã chủ động triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm, trước hết là xây dựng Bộ chỉ số KPI để theo dõi, đánh giá việc thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết 10-NQ/TW trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài; hoàn thiện hồ sơ dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, nhằm tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, định hướng mới của Nghị quyết 10-NQ/TW, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, ổn định và thuận lợi hơn cho hoạt động đầu tư, đồng thời bảo đảm các chính sách mới có thể được tổ chức thực hiện thống nhất trong thực tiễn.

Theo đại diện Lãnh đạo Cục Đầu tư nước ngoài, để triển khai Nghị quyết hiệu quả, cần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý, đặc biệt trong việc theo dõi, đánh giá và hậu kiểm hoạt động của các dự án đầu tư. Đối với Bộ Tài chính, sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan đầu tư, thuế và hải quan có ý nghĩa thiết thực trong việc vừa tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, vừa bảo đảm chính sách được thực hiện đúng mục tiêu và hiệu quả.

Nghị quyết 10-NQ/TW đã xác lập một tư duy mới, từ chủ yếu thu hút nguồn lực bên ngoài sang phát huy nguồn lực bên ngoài để nâng cao năng lực nội tại của nền kinh tế. Để thực hiện thành công tư duy đó, không chỉ cần một môi trường để nhà đầu tư muốn đến, mà còn phải xây dựng được điều kiện để nhà đầu tư muốn ở lại, mở rộng hoạt động, tăng cường nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực và kết nối sâu hơn với doanh nghiệp Việt Nam.

Cục Đầu tư nước ngoài cam kết sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức quốc tế, các hiệp hội doanh nghiệp và nhà đầu tư để triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW theo hướng thực chất, đồng bộ và lấy hiệu quả phát triển làm thước đo.

Phát biểu tại Hội thảo, bà Roux Eloïse, Đại diện phái đoàn Liên minh châu Âu (EU) tại Việt Nam đánh giá Việt Nam đang trải qua giai đoạn chuyển mình và phát triển sâu rộng nhờ các Nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị. Tuy nhiên, trong bối cảnh có nhiều biến động và sự có thể dự đoán được sẽ tạo nên khác biệt cho các quốc gia sẵn sàng thu hút và giữ chân các doanh nghiệp FDI. Việt Nam là một hình mẫu thành công cho nhiều quốc gia ở khía cạnh này.

Theo bà Roux Eloïse, Việt Nam là đối tác lâu năm của EU và quan hệ đối tác Việt Nam – EU rất đa dạng, trọng tâm là mối quan hệ kinh tế chặt chẽ. Việt Nam có sức hấp dẫn với nền kinh tế liên tục tăng trưởng trong hai năm liên tiếp vừa qua. Điều này được hỗ trợ bởi những lợi thế mang tính cơ cấu, bao gồm thị trường nội địa đang mở rộng, cơ sở hạ tầng, logistics, định hướng xuất khẩu và mạng lưới các hiệp định thương mại tự do sâu rộng. Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam đạt mức cao nhất trong vòng 5 năm qua vào năm 2025 và những quý đầu năm 2026. Riêng đầu tư trực tiếp nước ngoài của EU vào Việt Nam đã đạt khoảng 30,5 tỉ USD vào cuối năm ngoái. Tuy nhiên, tiềm năng đầu tư giữa hai bên còn lớn hơn rất nhiều.

Hồ Hương