Báo Đại Đoàn Kết Các cuộc vận động

Chuyển đổi số để Mặt trận gần dân hơn - Bài cuối: Xây dựng Mặt trận hiện đại trong cả đời sống và không gian số

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Chuyển đổi số để Mặt trận gần dân hơn - Bài cuối: Xây dựng Mặt trận hiện đại trong cả đời sống và không gian số

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News
Chuyển đổi số để Mặt trận gần dân hơn - Bài cuối: Xây dựng Mặt trận hiện đại trong cả đời sống và không gian số
Ủy ban MTTQ Việt Nam TP Quảng Ninh tổ chức hội nghị tuyên truyền nâng cao năng lực chuyển đổi số cho đoàn viên, hội viên, cán bộ MTTQ và các đoàn thể tại cơ sở. Ảnh: Ngọc Anh.

Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031 xác định Chương trình 7: “Tham gia phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, xây dựng xã hội số; đẩy mạnh chuyển đổi số trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”. Đây không chỉ là chương trình về công nghệ, mà còn là yêu cầu đổi mới phương thức tập hợp, vận động Nhân dân, mở rộng thực hành dân chủ và xây dựng Mặt trận hiện đại hơn trong cả đời sống trực tiếp và không gian số.

Đích đến là phục vụ Nhân dân tốt hơn

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục đặt các lĩnh vực này vào vị trí động lực chính của mô hình tăng trưởng mới, gắn với phát triển kinh tế số, xã hội số và kỹ năng số.

Trong dòng chảy đó, Chương trình 7 của Đại hội XI MTTQ Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt. Mặt trận có thế mạnh riêng: Mạng lưới rộng khắp đến địa bàn dân cư, khả năng tập hợp các giai tầng, tổ chức thành viên, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và mối liên hệ trực tiếp với Nhân dân. Nghị quyết 43-NQ/TW xác định MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội giữ vai trò nòng cốt chính trị trong tập hợp, đoàn kết, phát huy nguồn lực, tiềm năng và sức sáng tạo của Nhân dân. Tham gia phát triển khoa học, công nghệ và xã hội số chính là phương thức mới để thực hiện ngày càng tốt hơn vai trò ấy.

Văn kiện Đại hội XI MTTQ Việt Nam yêu cầu triển khai Đề án chuyển đổi số MTTQ Việt Nam giai đoạn 2025 - 2030, tầm nhìn 2035; xây dựng dữ liệu, nền tảng số; thúc đẩy “Bình dân học vụ số”; phát huy trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và tham gia giám sát, phản biện chính sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.

Chuyển đổi số rất dễ bị hiểu thành số hóa hồ sơ, giảm giấy tờ, họp trực tuyến hoặc đưa một quy trình thủ công lên máy tính. Những việc đó cần thiết, nhưng chưa đủ. Với Mặt trận, thước đo quan trọng hơn phải là: người dân có dễ nói lên ý kiến hơn không; tiếng nói của dân có được tiếp nhận đầy đủ hơn không; kiến nghị có được chuyển đúng địa chỉ, theo dõi đến cùng và phản hồi minh bạch hơn không; giám sát, phản biện có dựa trên dữ liệu và bằng chứng tốt hơn không.

Tinh thần xây dựng Mặt trận hiện đại đã đặt ra yêu cầu rất rõ: chuyển đổi số phải giúp Mặt trận gần dân hơn, nghe dân rộng hơn, phản hồi dân nhanh hơn. Văn kiện Đại hội XI đề ra việc vận hành các nền tảng để Nhân dân phản ánh, kiến nghị, góp ý mọi lúc, mọi nơi và phát triển Cổng Mặt trận số 24/7. Đây là thay đổi căn bản, mở thêm một “cửa” thường trực để Mặt trận nghe dân, nhận diện sớm vấn đề xã hội và theo dõi quá trình giải quyết kiến nghị.

Hướng đi này đã có kết quả bước đầu. Theo Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, đến giữa năm 2026, Cổng Mặt trận số 24/7 đã tiếp nhận hơn 1.500 phản ánh, kiến nghị; cơ sở dữ liệu trực tuyến đã có dữ liệu của 34/34 tỉnh, thành phố và hơn 3.000 đơn vị cấp xã. Con số này cho thấy chuyển đổi số không chỉ giúp MTTQ mở rộng “kênh lắng nghe” Nhân dân, mà đang từng bước tạo ra một phương thức nắm bắt, tổng hợp và phản ánh ý kiến Nhân dân nhanh hơn, rộng hơn và sát thực tiễn hơn.

Nhìn thẳng những “điểm nghẽn” để bứt tốc

Chuyển đổi số đang trở thành yêu cầu ngày càng cấp thiết đối với hoạt động của MTTQ Việt Nam, song tại nhiều địa phương, quá trình triển khai vẫn gặp không ít khó khăn. Ở một số nơi, hạ tầng công nghệ, trang thiết bị và đường truyền chưa đáp ứng yêu cầu; việc xây dựng, cập nhật và chia sẻ dữ liệu giữa các cấp còn chưa đồng bộ. Đặc biệt, năng lực số của đội ngũ cán bộ Mặt trận không đồng đều, nhất là ở cấp cơ sở, khiến việc khai thác các nền tảng, phần mềm mới chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng.

Bên cạnh những khó khăn về nguồn lực, một vấn đề khác là thói quen làm việc truyền thống của một bộ phận cán bộ Mặt trận vẫn còn phổ biến. Nếu cán bộ chỉ sử dụng công nghệ để thay thế hồ sơ giấy, chuyển văn bản từ bản cứng sang bản điện tử thì chuyển đổi số khó tạo ra sự thay đổi thực chất trong phương thức hoạt động.

Thực tế đó đòi hỏi MTTQ các cấp không chỉ đầu tư hạ tầng, phần mềm mà cần chú trọng đào tạo kỹ năng số, chuẩn hóa dữ liệu và chia sẻ kinh nghiệm, cách làm hiệu quả. Quan trọng hơn, chuyển đổi số phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của cơ sở, giúp Mặt trận gần dân hơn, nắm bắt nhanh hơn ý kiến, nguyện vọng của Nhân dân và nâng cao hiệu quả giám sát, phản biện xã hội.

Cần cách tiếp cận đồng bộ

Những yêu cầu đặt ra từ thực tiễn cho thấy, để chuyển đổi số thực sự tạo ra chuyển biến trong hoạt động của Mặt trận, cần một cách tiếp cận đồng bộ, lấy hiệu quả phục vụ Nhân dân và yêu cầu đổi mới phương thức hoạt động làm thước đo.

Trước hết, kiên định nguyên tắc lấy Nhân dân làm trung tâm. Mọi nền tảng hay ứng dụng phải trả lời được câu hỏi: Công cụ này giúp Mặt trận gần dân hơn và giúp người dân thực hiện quyền làm chủ thuận lợi hơn như thế nào? Các kênh tiếp nhận ý kiến phải đơn giản, dễ dùng; quy trình phân loại, chuyển xử lý, đôn đốc và phản hồi phải rõ ràng, mạch lạc.

Cần coi dữ liệu là nguồn lực mới của công tác Mặt trận. Xây dựng dữ liệu chuẩn, kết nối phù hợp với cơ sở dữ liệu quốc gia và các tổ chức thành viên. Dữ liệu được chuẩn hóa, phân tích tốt sẽ giúp Mặt trận nắm tình hình kịp thời, phát hiện sớm vấn đề và nâng chất lượng tham mưu, giám sát, phản biện.

Cùng với đó, đưa “Bình dân học vụ số” xuống từng khu dân cư, ưu tiên người cao tuổi, đồng bào vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và các nhóm ít có điều kiện tiếp cận công nghệ. Mặt trận có thể huy động thêm các lực lượng tham gia mạng lưới tình nguyện viên số, hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ công, bảo vệ tài khoản, nhận diện lừa đảo và thông tin xấu độc. Thu hẹp khoảng cách số cũng là bảo đảm công bằng trong tiếp cận cơ hội phát triển.

Đặc biệt, cần phát huy mạnh hơn vai trò của trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và người Việt Nam ở nước ngoài. Mặt trận có thể tạo mạng lưới chuyên gia, hội đồng tư vấn; kết nối nhu cầu của cộng đồng với năng lực nghiên cứu; phát hiện và nhân rộng sáng kiến từ cơ sở. Đồng thời, cần nâng chất lượng giám sát, phản biện các chính sách lớn về dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, dịch vụ số, chuyển đổi xanh, bảo đảm phát triển công nghệ gắn với quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân.

Một nguồn lực rất quan trọng chính là xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận có năng lực làm việc trong môi trường số. Yêu cầu “gần dân, gần cơ sở, gần không gian số” phải trở thành một chuẩn năng lực mới. Cán bộ Mặt trận không nhất thiết là chuyên gia công nghệ, nhưng phải biết sử dụng dữ liệu, tương tác trực tuyến, xác minh thông tin, nhận diện rủi ro trên không gian mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và biết lắng nghe dân bằng cả kênh truyền thống lẫn kênh số.

Để mỗi kết nối số trở thành một kết nối lòng dân

Giá trị lớn nhất của Chương trình 7 không nằm ở việc Mặt trận có thêm bao nhiêu hệ thống công nghệ, mà ở khả năng hình thành một phương thức hoạt động mới: nhanh hơn nhưng không xa dân; hiện đại hơn nhưng không hành chính hóa; dựa trên dữ liệu nhưng vẫn đặt con người và niềm tin xã hội ở vị trí trung tâm.

Trong không gian phát triển mới, Mặt trận cần kết nối các nguồn lực xã hội, đưa thành quả công nghệ đến với người dân và mở rộng kênh để Nhân dân giám sát, phản biện, đóng góp sáng kiến. Khi mỗi phản ánh số được lắng nghe, dữ liệu được sử dụng có trách nhiệm, chuyển đổi số sẽ góp phần củng cố đồng thuận xã hội và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó cũng là cách để Chương trình 7 đi vào cuộc sống: Biến công nghệ thành công cụ, dữ liệu thành nguồn lực phục vụ Nhân dân và không gian số thành một không gian mới của đại đoàn kết.

Chuyển đổi số đang mở ra cơ hội để MTTQ Việt Nam đổi mới mạnh mẽ phương thức tập hợp, lắng nghe và phản ánh ý kiến Nhân dân. Tuy nhiên, để cơ hội trở thành kết quả thực chất, cần nhìn thẳng vào những điểm nghẽn về hạ tầng, dữ liệu, kỹ năng số và cách làm. Khi mỗi cán bộ chủ động đổi mới, mỗi địa phương biết chia sẻ kinh nghiệm, mỗi nền tảng được thiết kế từ nhu cầu của người dân, chuyển đổi số sẽ không chỉ là câu chuyện công nghệ, mà trở thành động lực nâng cao hiệu quả công tác Mặt trận, củng cố niềm tin và tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thời gian qua công tác chuyển đổi số của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội đã đạt được những kết quả nổi bật. Toàn hệ thống MTTQ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản mang tính chất cốt lõi như Đề án Chuyển đổi số MTTQ Việt Nam giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn đến năm 2035; Kiến trúc số MTTQ Việt Nam; Các quy trình nghiệp vụ nội bộ MTTQ trên nền tảng số; Chiến lược dữ liệu của Mặt trận, Kiến trúc dữ liệu của Mặt trận. Đây là những văn bản hết sức quan trọng mang tính nền tảng để định hướng triển khai các hoạt động về chuyển đổi số của Mặt trận thời gian sắp tới.

TS Lê Mậu Nhiệm