Chuyên gia hiến kế phát triển xanh, bền vững cho Quảng Ninh
Tại Diễn đàn khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số năm 2026 do UBND TP Quảng Ninh tổ chức ngày 23/9, các chuyên gia, nhà khoa học đã hiến kế thúc đẩy chuyển đổi xanh, chuyển đổi số gắn với bảo vệ tài nguyên, nâng cao khả năng thích ứng biến đổi khí hậu, góp phần đưa thành phố phát triển nhanh, bền vững.
Quản trị phát triển từ dữ liệu và vốn tự nhiên
Diễn đàn diễn ra theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến tại 55 điểm cầu, với 500 đại biểu tham dự trực tiếp và 2.000 đại biểu tham dự trực tuyến.

Phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Văn Công, Phó Chủ tịch UBND TP Quảng Ninh, nhấn mạnh phương châm chuyển đổi xanh là mục tiêu cốt lõi; chuyển đổi số là công cụ, phương thức thực hiện; khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực dẫn dắt; người dân, doanh nghiệp là trung tâm phục vụ và chủ thể thụ hưởng.

Theo Phó Chủ tịch UBND TP Quảng Ninh, không gian phát triển mới mở ra nhiều cơ hội, đồng thời đặt ra áp lực về quản trị tài nguyên, bảo tồn môi trường sinh thái và nâng cao năng lực chống chịu thiên tai. Thành phố cần xác định các ưu tiên chiến lược, lựa chọn khâu đột phá, tránh đầu tư dàn trải.
Tại diễn đàn, các chuyên gia, nhà khoa học đã tập trung làm rõ những ưu tiên để kết nối tăng trưởng xanh, dữ liệu và năng lực chống chịu khí hậu; đề xuất giải pháp quy hoạch, phát triển hạ tầng phù hợp với đặc thù của Quảng Ninh.
Tham luận tại diễn đàn, GS.TSKH Hồ Tú Bảo, Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán, đề xuất cách tiếp cận phát triển Quảng Ninh dựa trên bảo toàn và phục hồi vốn tự nhiên. Theo ông, tăng trưởng xanh cần tạo ra nhiều giá trị hơn với lượng tài nguyên sử dụng ít hơn; đồng thời, thành phố cần nâng cao khả năng phát hiện, phản ứng, phục hồi và thích nghi trước những biến động khí hậu.
Một đề xuất đáng chú ý là xây dựng bản sao số vốn tự nhiên, mô hình giúp theo dõi sự biến động của rừng, nguồn nước, hệ sinh thái biển, đất đai và những giá trị các nguồn lực này mang lại. Qua đó, địa phương có cơ sở xác định tài nguyên đang ở trạng thái nào, sức chịu tải ra sao để lựa chọn phương án phát triển phù hợp.

GS.TSKH Hồ Tú Bảo nhấn mạnh việc mô hình hóa các mối quan hệ giữa những vùng sinh thái. Chẳng hạn, suy giảm rừng tác động thế nào đến bùn lắng, ngập lụt tại Hạ Long, Cẩm Phả và chất lượng nước vịnh. Đây là những tương tác cần được nhận diện để đánh giá đầy đủ tác động của hoạt động phát triển.
Để triển khai, ông đề xuất kiểm kê, cấu trúc bản đồ vốn tự nhiên; lựa chọn những vùng biển, rừng ngập mặn, nguồn nước, quỹ đất có giá trị cao, rủi ro cao để thực hiện trước. Mô hình có thể thí điểm tại Hạ Long – Cẩm Phả, đánh giá khả năng vận hành trước khi mở rộng. Dữ liệu cần được cập nhật định kỳ, gắn với trách nhiệm cụ thể.
Cùng với bảo vệ vốn tự nhiên, chuyên gia đề xuất kết nối ba cực Vân Đồn, Móng Cái, Quảng Yên thành một hệ thống. Các luồng hàng hóa, năng lượng, nước và dịch vụ sinh thái cần được xem xét trong mối liên hệ toàn vùng nhằm sử dụng hiệu quả nguồn lực. Quy hoạch cũng phải nhận diện những điểm nghẽn hạ tầng có thể gây chia cắt khi xảy ra ngập lụt, sạt lở.
Nền tảng cho cách quản trị này là dữ liệu được thu thập, tích hợp và cập nhật liên tục. GS.TSKH Hồ Tú Bảo đề xuất xây dựng kho dữ liệu tập trung về vốn tự nhiên và khí hậu, thống nhất chuẩn dữ liệu, khắc phục tình trạng thông tin bị chia cắt giữa các cơ quan. Mạng lưới cảm biến cần triển khai theo giai đoạn, thí điểm ở những nơi có rủi ro cao rồi mở rộng.
Trên cơ sở đó, các công cụ mô phỏng, dự báo và trung tâm điều hành thông minh xanh sẽ hỗ trợ chuyển dữ liệu thành quyết định. Kịch bản ngập lụt, bão lũ, tác động của dự án đến phát thải và vốn tự nhiên cần được xem xét trước khi lựa chọn phương án đầu tư.
Các đề xuất này nằm trong năm ưu tiên được chuyên gia đưa ra, bao gồm xây dựng bản sao số vốn tự nhiên, kết nối các cực phát triển, gắn tăng trưởng xanh với chống chịu khí hậu, xây dựng nền tảng số và hệ thống điều hành, ra quyết định xanh – số.
Quy hoạch thích ứng với từng vùng sinh thái
Nếu dữ liệu giúp nhận diện rủi ro và hỗ trợ quyết định, thì quy hoạch, phát triển hạ tầng là bước cụ thể hóa khả năng thích ứng trong từng không gian đô thị.
PGS.TS Lưu Đức Hải, Viện trưởng Viện Nghiên cứu đô thị và Phát triển hạ tầng, đề xuất kết hợp quy hoạch tích hợp, hạ tầng xanh – xám và mô hình đô thị bọt biển. Theo ông, việc lựa chọn giải pháp cần phù hợp với đặc điểm riêng của từng vùng ven biển, hải đảo và miền núi Quảng Ninh.

PGS.TS Lưu Đức Hải phân tích, vùng ven biển chịu tác động của bão, triều cường, ngập lụt, xói lở; hải đảo đối mặt với nguy cơ thiếu nước ngọt, xâm nhập mặn, sạt lở bờ đảo; miền núi chịu rủi ro lũ quét, lũ ống và sạt lở đất... Sự khác biệt này đòi hỏi giải pháp thích ứng phải dựa trên địa hình, thủy văn, hệ sinh thái và mức độ đô thị hóa của từng khu vực.
Trong cách tiếp cận được đề xuất, hạ tầng xám như đê, kè, cống và hệ thống thoát nước được kết hợp với hạ tầng xanh, các giải pháp dựa vào tự nhiên để tăng khả năng trữ, thấm, điều tiết nước, bảo vệ hệ sinh thái.

Mô hình đô thị bọt biển tổ chức các không gian có khả năng thu, giữ, thấm và tái sử dụng nước mưa, qua đó giảm áp lực lên hệ thống thoát nước. PGS.TS Lưu Đức Hải đề xuất ưu tiên thí điểm tại Hạ Long, Cẩm Phả, Quảng Yên, tập trung vào những khu vực thường xuyên chịu ngập úng.
Các dự án có thể kết hợp hồ điều hòa, công viên ngập nước, vườn mưa, rãnh sinh học, bề mặt thấm và hệ thống thu gom, tái sử dụng nước mưa. Với vùng đảo và miền núi, giải pháp thu gom nước mưa, tăng thấm cần đồng thời hướng tới giảm dòng chảy gây xói mòn và bổ sung nguồn nước phục vụ người dân.

Để hiện thực hóa, PGS.TS Lưu Đức Hải kiến nghị tích hợp các nguyên tắc thích ứng vào quy hoạch chung, quy hoạch phân khu và chương trình phát triển đô thị. Những khu vực cần bảo vệ, không gian trữ nước, hành lang thoát nước tự nhiên phải được xác định rõ. Yêu cầu về tỷ lệ bề mặt thấm, diện tích trữ nước, không gian xanh cần được đưa vào tiêu chí xem xét dự án mới.
Việc phục hồi hành lang sông, suối, đất ngập nước, rừng ngập mặn cũng cần gắn với xây dựng cơ sở dữ liệu rủi ro khí hậu, ứng dụng công nghệ trong dự báo, cảnh báo và vận hành hạ tầng.
Từ những khuyến nghị tại diễn đàn, Quảng Ninh kỳ vọng từng bước xác định các nhiệm vụ ưu tiên, mô hình thí điểm và giải pháp có khả năng triển khai trong giai đoạn 2026–2030, gắn chuyển đổi xanh, chuyển đổi số với nâng cao năng lực thích ứng biến đổi khí hậu.

Trong khuôn khổ diễn đàn, TP Quảng Ninh tổ chức tiếp nhận, chuyển giao Bộ học liệu đa phương tiện lan tỏa phong trào “Bình dân học vụ số” từ Ủy ban Thường vụ Quốc hội và phát động đợt cao điểm hoàn thành chương trình học tập bộ học liệu trên địa bàn thành phố. Hoạt động góp phần phổ cập tri thức, kỹ năng số, nâng cao năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo trong các cơ quan, đơn vị, địa phương.