Chuyển từ nghiên cứu sang làm chủ công nghệ biển - Bài 3: Đào tạo nguồn nhân lực biển chất lượng cao
Nguồn nhân lực được coi là “hạ tầng mềm” của quốc gia biển với không chỉ người làm hàng hải, đóng tàu hay thủy sản truyền thống mà cần một hệ sinh thái nhân lực biển mới như khoa học biển; dữ liệu; khí hậu; tự động hóa; logistics... Dự thảo Chiến lược quốc gia về phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản đến năm 2045 cũng đã xác định, tổ chức các chương trình phát hiện và nuôi dưỡng tài năng khoa học từ bậc học phổ thông; gắn giáo dục STEM/STEAM với định hướng nghiên cứu dài hạn.
Nhu cầu đào tạo xuất phát từ thực tiễn
Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cùng với phát triển kết cấu hạ tầng, đội tàu và dịch vụ logistics biển, xây dựng nguồn nhân lực biển chất lượng cao được xác định là một trong những giải pháp mang tính nền tảng.
Riêng đối với ngành hàng hải, nếu muốn phát triển đội tàu mang cờ quốc tịch Việt Nam đủ năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế, yếu tố quyết định không chỉ nằm ở quy mô đội tàu hay năng lực tài chính của doanh nghiệp, mà trước hết là chất lượng nguồn nhân lực đi biển.
TS Bùi Thiên Thu - Phó Chủ tịch Hội Cảng - Đường thuỷ - Thềm lục địa Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Đường thủy nội địa Việt Nam phân tích: Hệ thống đào tạo nguồn nhân lực đi biển của Việt Nam hiện đã hình thành tương đối đầy đủ theo các cấp trình độ. Khối đại học (ĐH) gồm ĐH Hàng hải Việt Nam, ĐH Giao thông vận tải TPHCM, ĐH Nha Trang. Khối đào tạo kỹ thuật viên và thuyền viên thực hành do các trường Cao đẳng Hàng hải - Đường thủy I, II, Cao đẳng Bách nghệ Hải Phòng và một số cơ sở đào tạo khác đảm nhiệm.
Giai đoạn 2023-2025, công tác tuyển sinh các chuyên ngành cốt lõi như: Điều khiển tàu biển, Máy tàu biển... đã có dấu hiệu phục hồi, với khoảng 3.700 chỉ tiêu tuyển sinh vào năm 2025. Tuy nhiên, chuỗi đào tạo từ "đầu vào" là sinh viên đến "đầu ra" là thuyền viên vẫn còn nhiều điểm nghẽn. Đáng lưu ý, tỷ lệ bỏ nghề sau tốt nghiệp còn cao. Thực tế chỉ khoảng 60% sinh viên sau khi tốt nghiệp lựa chọn đi biển ngay, số còn lại chuyển sang làm việc tại các doanh nghiệp logistics, công nghiệp hoặc các ngành nghề trên bờ để có môi trường làm việc ổn định và gần gia đình hơn.
Bên cạnh đó, ngoại ngữ và kỹ năng mềm vẫn là điểm yếu lớn nhất của nguồn nhân lực hàng hải Việt Nam. Việc hạn chế về tiếng Anh giao tiếp và tiếng Anh chuyên ngành khiến nhiều sĩ quan khó đảm nhiệm các vị trí quản lý trên tàu đa quốc gia, đồng thời mức thu nhập cùng chức danh thường thấp hơn khoảng 15-25% so với thuyền viên Philippines hoặc Ấn Độ.
Một thách thức khác là khoảng cách giữa đào tạo và thực tiễn khai thác. Trang thiết bị tại nhiều cơ sở đào tạo chưa theo kịp công nghệ trên các đội tàu thế hệ mới. Trong khi ngành vận tải biển đang bước vào quá trình chuyển đổi xanh với các tiêu chuẩn CII, EEXI, sử dụng nhiên liệu mới như ammonia, methanol và thúc đẩy chuyển đổi số trong khai thác tàu biển, chương trình đào tạo trong nước vẫn chưa được cập nhật tương xứng.
Theo TS Bùi Thiên Thu, để giải quyết căn cơ bài toán nhân lực hàng hải, cần xây dựng cơ chế liên kết chặt chẽ giữa ba chủ thể gồm: cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp vận tải biển. Trong đó, đối với các cơ sở đào tạo, cần đổi mới chương trình theo hướng tiếp cận chuẩn quốc tế. Tiếng Anh hàng hải cần được xác định là năng lực nghề nghiệp cốt lõi, từng bước triển khai đào tạo một số học phần chuyên ngành bằng tiếng Anh, hướng tới chuẩn đầu ra tối thiểu IELTS 5.0 hoặc TOEIC 550. Đồng thời, cần cập nhật các nội dung về vận hành tàu xanh, quản trị ESG, an ninh mạng hàng hải, trí tuệ nhân tạo và kỹ năng số vào chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn của Công ước STCW.
Nhà trường và doanh nghiệp cùng đào tạo
Tương tự với ngành đóng tàu, yêu cầu đặt ra hiện nay là phải đáp ứng được yêu cầu công nghệ hàng hải hiện đại. Dẫu thế, theo đại diện lãnh đạo Công ty TNHH MTV Đóng tàu Phà Rừng, nhân lực trẻ, được đào tạo bài bản ít mặn mà với các lĩnh vực công nghiệp nặng như ngành đóng tàu. Doanh nghiệp này đề xuất nhà nước có chính sách ưu đãi như về tuổi nghỉ hưu, bảo hiểm xã hội đối với người lao động, đồng thời có sự hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề cho sinh viên đăng ký các ngành đóng tàu.
Ông Đỗ Hồng Hải - Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Hàng hải và Đường thủy I (Hải Phòng) phân tích, nhu cầu về nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao ngày càng lớn, đặt ra những yêu cầu mới đối với hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Nhà trường đã có một số giải pháp để thực hiện nội dung này như chuyển từ đào tạo theo khả năng của nhà trường sang đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động, đồng thời xây dựng chương trình đào tạo theo hướng lấy nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp và các ngành kinh tế động lực của thành phố làm căn cứ quan trọng để rà soát, cập nhật chuẩn đầu ra, nội dung đào tạo và phương pháp tổ chức giảng dạy.
Đối với các ngành, nghề thuộc lĩnh vực hàng hải, đường thủy, dịch vụ cảng biển, logistics, cơ khí, điện, công nghệ ô tô và kỹ thuật, chương trình đào tạo được rà soát theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành, kỹ năng số, ngoại ngữ chuyên ngành và năng lực thích ứng với công nghệ mới, đồng thời bảo đảm phù hợp với các quy định hiện hành của Bộ GDĐT. Cùng với đó, nhà trường đã chuyển từ mô hình "nhà trường đào tạo" sang mô hình "nhà trường và doanh nghiệp cùng đào tạo".
Định hướng của nhà trường trong thời gian tới là từng bước mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp ngay từ khâu xây dựng chuẩn đầu ra, tổ chức đào tạo, đánh giá kết quả học tập đến tuyển dụng, qua đó giúp người học được tiếp cận môi trường làm việc thực tế và hình thành tác phong nghề nghiệp ngay trong quá trình học tập.
Còn đại diện Trường ĐH Hàng hải Việt Nam cho biết, nhà trường luôn quan tâm đặc biệt đến sự gắn kết chặt chẽ, hữu cơ với các doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước. Đội ngũ sĩ quan hàng hải được nhà trường đào tạo đã và đang làm chủ các con tàu đóng mới siêu lớn của các chủ tàu nước ngoài, đặc biệt là các chủ tàu Nhật Bản như NS United, NYK, MOL, Sugahara Kisen.
Đào tạo, xây dựng hệ sinh thái nhân lực biển mới
PGS.TS Võ Lương Hồng Phước, Trường ĐH Khoa học tự nhiên - ĐH Quốc gia TPHCM cho biết, trước những thách thức từ biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững không gian biển, nhà trường đẩy mạnh đào tạo, nghiên cứu và hợp tác trong lĩnh vực Hải dương học. Từ năm 2026, nhà trường tuyển sinh ngành Hải dương học với hai chương trình: chương trình chuẩn và chương trình tăng cường tiếng Anh, hướng đến đào tạo nguồn nhân lực phục vụ nghiên cứu, quản lý và phát triển tài nguyên biển. Sinh viên được đào tạo không những sâu về những kiến thức chuyên môn mà hiện nay với tình hình phát triển của khoa học kỹ thuật thì các bạn phải nắm được khoa học công nghệ tiên tiến và và giải quyết được những cái bài toán thực tế.
Mới đây, tại Hội thảo Khoa học, công nghệ liên quan đến triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh do Bộ KHCN tổ chức, GS.TS Nguyễn Tiến Thảo - Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH (Bộ GDĐT) chia sẻ, định hướng phát triển nguồn nhân lực biển chất lượng cao không chỉ đào tạo các ngành truyền thống mà hướng tới xây dựng một hệ sinh thái nhân lực biển mới.
Theo đó, các nhóm ngành trọng tâm bao gồm: Khoa học biển. Trong đó có Hải dương học, Dữ liệu biển, Khí hậu, Sinh thái biển; Kỹ thuật biển bao gồm: Kỹ thuật tàu thủy, Kỹ thuật hàng hải, Công nghệ kỹ thuật tàu thủy... Năng lực đòi hỏi của nhóm ngành này là: Thiết kế, đóng mới, vận hành, công trình ngoài khơi; ngành Thủy sản sẽ bao gồm: Nuôi trồng thủy sản, Khai thác thủy sản, Khoa học thủy sản, Bệnh học thủy sản, Quản lý thủy sản. Mục tiêu hướng tới là hoàn thiện chuỗi giá trị sinh học biển. Trong định hướng của Bộ GDĐT, đào tạo nhân lực biển sẽ trên nguyên tắc hỗ trợ theo sản phẩm đầu ra, không cấp bình quân theo đầu vào.
GS.TS Nguyễn Tiến Thảo cho hay, ngành giáo dục xác định đào tạo nhân lực biển hướng tới hoàn thiện chuẩn đầu ra, chương trình đào tạo, đội ngũ, hạ tầng kỹ thuật, mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và hệ thống tuyển sinh đào tạo nguồn nhân lực biển. Một quốc gia biển mạnh cần một hệ thống nhân lực biển mạnh, liên ngành và có năng lực làm chủ.
Tuyển sinh ĐH 2026 tiếp tục ghi nhận xu hướng dịch chuyển nguồn nhân lực về khoa học, công nghệ và kỹ thuật (STEM). Thống kê của Bộ GDĐT cho thấy các lĩnh vực biển, hàng hải đang từng bước hình thành quy mô tuyển sinh đáng kể - một tín hiệu cho thấy người học bắt đầu quan tâm hơn đến những lĩnh vực gắn với các chiến lược và dự án phát triển dài hạn của quốc gia.
Chính sách học bổng theo Nghị định 179/2026/NĐ-CP đã tạo một cú hích bước đầu khi xác định rõ những lĩnh vực ưu tiên mà còn tạo hỗ trợ tài chính trực tiếp, với mức học bổng khoảng 3,7 - 8,4 triệu đồng/tháng tùy đối tượng và trình độ. Đó là tiền đề để thu hút nhân lực cho khoa học, công nghệ biển và các lĩnh vực chiến lược khác như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, điện hạt nhân, đường sắt, năng lượng mới...
Lâm An
(Còn nữa)