Đánh thức làng nghề, mở lối công nghiệp văn hóa
Mỗi làng nghề là một kho ký ức được lưu giữ bằng đôi tay. Trong một kỹ thuật làm gốm, một đường chạm gỗ, một tấm lụa hay chiếc nón lá không chỉ có công năng của sản phẩm, mà còn có tri thức, thẩm mỹ và câu chuyện của cộng đồng. Khi những giá trị ấy được nhìn nhận như nguồn lực cho sáng tạo, làng nghề có thể trở thành một phần của công nghiệp văn hóa.
Câu chuyện gốm Hương Canh cho thấy rõ con đường ấy. Có lịch sử hơn 300 năm, nghề gốm từng mang lại cuộc sống ấm no cho nhiều gia đình nhưng dần mai một từ sau năm 1986 trước sự cạnh tranh của các sản phẩm nhôm, nhựa, inox. Sinh ra trong làng nghề, nhà điêu khắc - họa sĩ Nguyễn Hồng Quang đã học nghề từ cha ông, sau đó theo học mỹ thuật để tìm hướng đi mới. Từ kinh nghiệm truyền thống kết hợp với kiến thức hiện đại, anh phát triển các dòng gốm ứng dụng như phù điêu, tiểu cảnh, trang trí nội - ngoại thất và sản phẩm mỹ thuật độc bản.
Ở làng Chuông, nghề làm nón cũng đang tìm được những giá trị mới. Từ vật dụng quen thuộc trong đời sống nông nghiệp, chiếc nón được cải tiến mẫu mã, đa dạng hóa sản phẩm, gắn với du lịch và thị trường quà tặng. Nón phổ thông có giá khoảng 50.000-70.000 đồng/chiếc, loại cầu kỳ từ 250.000-300.000 đồng/chiếc. Nghề làm nón tạo việc làm cho lao động nông nhàn, người cao tuổi, trẻ em và lao động ở các địa phương lân cận. Du khách đến tham quan, trải nghiệm và mua sản phẩm cũng giúp mở rộng đầu ra cho làng nghề.
Theo NSND Vương Duy Biên, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam: “Làng nghề Việt Nam nói chung rất phong phú; nghề thủ công mỹ nghệ ở nước ta cũng đa dạng. Điều đáng chú ý là vẫn giữ được hồn cốt văn hóa dân tộc”. Theo ông, những người làm nghề luôn đưa sự tinh hoa và tỉ mỉ vào từng sản phẩm; mỗi sản phẩm, mỗi nhóm sản phẩm đều mang một câu chuyện riêng, khác hẳn với hàng hóa công nghiệp.
Từ những sản phẩm thủ công, câu chuyện công nghiệp văn hóa có thể mở rộng sang không gian di sản. Xã Thư Lâm có 96 di tích, 31 lễ hội truyền thống, rối nước Đào Thục, ca trù Lỗ Khê cùng nhiều làng nghề. Ở đây, di sản không chỉ nằm trong đình, chùa hay lễ hội mà còn hiện diện trong nghề thủ công, nghệ thuật biểu diễn và đời sống cộng đồng.
PGS.TS Bùi Xuân Đính, Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội, cho rằng cần nhìn di sản như “nguồn tài nguyên gốc của công nghiệp văn hóa”. Di sản cung cấp tư liệu, chất liệu, “nguyên liệu” cho sáng tạo, từ đó hình thành những sản phẩm văn hóa mới. Khi kết hợp sức sáng tạo với khoa học, công nghệ và kỹ xảo hiện đại, các loại hình truyền thống có thể đến với đông đảo công chúng hơn.
Từ cách nhìn ấy, một làng nghề có thể trở thành một điểm đến văn hóa. Du khách không chỉ mua sản phẩm mà còn có thể tìm hiểu lịch sử làng nghề, gặp nghệ nhân, tham gia một công đoạn sản xuất và nghe câu chuyện phía sau sản phẩm. Kỹ thuật chạm khắc gỗ, hoa văn truyền thống hay nghệ thuật rối nước cũng có thể trở thành chất liệu cho những sản phẩm sáng tạo mới.
Các làng nghề Hà Nội đang có thêm cơ hội từ xu hướng du lịch trải nghiệm. Bát Tràng, Vạn Phúc, Chuyên Mỹ, Sơn Đồng đã được công nhận là thành viên Mạng lưới các thành phố thủ công sáng tạo thế giới. Nhưng danh hiệu chỉ có ý nghĩa khi những giá trị được ghi nhận tiếp tục sống trong cộng đồng. Để làm được điều đó, các làng nghề còn phải giải quyết những vấn đề về hạ tầng, chất lượng sản phẩm, nhân lực và truyền nghề.
Nhiều nghệ nhân có tay nghề cao đang bước vào tuổi xế chiều, trong khi lao động trẻ chưa thực sự nhìn thấy cơ hội lập nghiệp từ nghề truyền thống. Vì vậy, giữ nghề không thể chỉ là truyền lại kỹ thuật. Người trẻ cần có cơ hội tiếp nhận nghề, đồng thời sáng tạo mẫu mã, thiết kế sản phẩm và tìm kiếm thị trường mới.