Báo Đại Đoàn Kết Kinh tế

Đánh thức “vàng xanh” trăm năm trên đỉnh Ba Sơn – Công Sơn

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Đánh thức “vàng xanh” trăm năm trên đỉnh Ba Sơn – Công Sơn

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Giữa những cánh rừng nguyên sinh ở Ba Sơn và Công Sơn (thuộc quần thể núi Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn), hàng trăm cây chè Shan tuyết cổ thụ trên 300 năm tuổi được ví như “vàng xanh” đang từng bước trở thành sinh kế quan trọng cho người dân, khi được quan tâm bảo tồn và khai thác theo hướng bền vững.

Ẩn mình trên các triền núi cao, nơi mây phủ quanh năm, quần thể chè Shan tuyết cổ thụ tại Ba Sơn và Công Sơn được xem là một trong những vùng chè quý hiếm của xứ Lạng. Những cây chè thân to, phủ rêu phong, tán rộng, nhiều cây có tuổi đời từ hàng trăm năm, trong đó có những cây trên 300 năm tuổi, phân bố rải rác trong rừng tự nhiên, tạo nên hệ sinh thái đặc trưng hiếm có.

Theo kết quả khảo sát của cơ quan chức năng, tại xã Ba Sơn còn lưu giữ nhiều cây chè cổ thụ có giá trị cao về nguồn gen, một số cây đã được công nhận là cây di sản. Đáng chú ý, tại đây có 12 cây chè Shan tuyết cổ thụ được công nhận là Cây Di sản Việt Nam từ năm 2023. Trong khi đó, xã Công Sơn hiện có khoảng 2.000 cây chè Shan tuyết, trong đó có 99 cây chè cổ thụ được công nhận là Cây Di sản Việt Nam vào năm 2024. Đây là những cây có tuổi đời hàng trăm năm, mang giá trị đặc biệt về sinh thái và nguồn gen.

Đoàn công tác Ban Dân tộc HĐND tỉnh Lạng Sơn khảo sát vùng chè tại xã Ba Sơn.
Đoàn công tác Ban Dân tộc HĐND tỉnh Lạng Sơn khảo sát vùng chè tại xã Ba Sơn.

Đại diện lãnh đạo Ban Dân tộc HĐND tỉnh Lạng Sơn đánh giá, chè Shan tuyết là cây trồng đặc hữu, có tiềm năng lớn để phát triển thành sản phẩm hàng hóa giá trị cao. Việc bảo tồn và phát triển cần gắn với sinh kế của người dân, đồng thời chú trọng xây dựng thương hiệu, nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm.

Thực tế cho thấy, những năm gần đây, nhờ được quan tâm hỗ trợ về kỹ thuật thu hái, chế biến và kết nối tiêu thụ, giá trị kinh tế từ chè Shan tuyết cổ thụ đã từng bước được nâng lên. Nếu trước đây người dân chủ yếu khai thác tự phát, bán nhỏ lẻ thì nay đã bắt đầu hình thành liên kết sản xuất, từng bước hướng đến sản phẩm hàng hóa.

Tại xã Ba Sơn, ông Hoàng Văn Lâm, một hộ dân gắn bó lâu năm với cây chè cổ thụ chia sẻ: “Trước đây gia đình tôi hái chè chủ yếu để dùng hoặc bán lẻ, thu nhập không đáng kể. Từ khi được hướng dẫn cách hái búp đúng kỹ thuật, chế biến sạch, giữ hương vị tự nhiên, giá chè tăng lên rõ rệt. Mỗi năm cũng có thêm vài chục triệu đồng từ chè, giúp ổn định cuộc sống hơn”.

Tại xã Công Sơn, có 99 cây chè Shan tuyết cổ trên 300 năm tuổi, đây là nguồn gen quý của địa phương.
Tại xã Công Sơn, có 99 cây chè Shan tuyết cổ trên 300 năm tuổi, đây là nguồn gen quý của địa phương.

Không chỉ ở Ba Sơn, tại xã Công Sơn, bà Lý Thị Hương cũng nhận thấy sự thay đổi rõ rệt từ khi tham gia liên kết tiêu thụ sản phẩm. “Chè Shan tuyết cổ thụ búp to, thơm, nước đậm nên được thương lái thu mua giá cao hơn chè thường. Gia đình tôi mỗi vụ chè cũng có thêm thu nhập, giảm bớt phụ thuộc vào nương rẫy”, bà Hương cho biết.

Theo người dân, chè Shan tuyết cổ thụ có giá trị kinh tế cao hơn so với các loại chè thông thường nhờ chất lượng vượt trội. Chè tươi thường có giá từ 20.000 đến 30.000 đồng/kg, trong khi chè khô thành phẩm dao động từ 200.000 đến 500.000 đồng/kg, thậm chí cao hơn đối với các sản phẩm chế biến kỹ, đóng gói theo tiêu chuẩn.

Không chỉ mang lại thu nhập trực tiếp, cây chè cổ thụ còn mở ra nhiều hướng phát triển kinh tế mới. Với đặc tính sinh trưởng tự nhiên, không sử dụng hóa chất, chè Shan tuyết có lợi thế lớn trong việc phát triển theo hướng hữu cơ, gắn với chương trình OCOP và xây dựng thương hiệu nông sản đặc trưng của địa phương. Một số nơi đã bước đầu nghiên cứu kết hợp phát triển du lịch trải nghiệm hái chè, chế biến chè, tạo thêm nguồn thu cho người dân.

Nhà nước và Nhân dân đồng hành trong việc bảo tồn và phát triển giống chè quý tại địa phương, tạo thu nhập ổn định.
Nhà nước và Nhân dân đồng hành trong việc bảo tồn và phát triển giống chè quý tại địa phương, tạo thu nhập ổn định.

Tuy vậy, công tác bảo tồn và phát triển cây chè cổ thụ vẫn còn không ít khó khăn. Phần lớn cây chè mọc tự nhiên, chưa được chăm sóc theo quy trình kỹ thuật bài bản; sản xuất còn nhỏ lẻ, thiếu liên kết; chất lượng sản phẩm chưa đồng đều. Bên cạnh đó, việc xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ vẫn còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có.

Để phát huy hiệu quả “vàng xanh” trăm năm, các địa phương đang từng bước triển khai các giải pháp đồng bộ. Trong đó, tập trung khoanh vùng bảo tồn các quần thể chè cổ thụ, nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo vệ cây di sản; đồng thời hỗ trợ kỹ thuật, vốn và kết nối tiêu thụ sản phẩm. Việc phát triển chè gắn với du lịch sinh thái, trải nghiệm cũng được xác định là hướng đi lâu dài.

Chè Shan tuyết cổ thụ không chỉ là “báu vật” của núi rừng, mà còn là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững. Khi bảo tồn đi đôi với khai thác hợp lý, những tán chè hàng trăm năm tuổi sẽ tiếp tục xanh trên đỉnh núi, mang lại giá trị lâu dài cho người dân và vùng đất xứ Lạng.

Nghĩa Hiệp