Đề xuất 4 chính sách mới về Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi)
Bộ Tư pháp đề xuất 4 chính sách liên quan đến Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi). Trong đó có nội dung quy định chặt chẽ điều kiện, thủ tục giải quyết nuôi con nuôi (NCN) nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em và phù hợp với thông lệ quốc tế…
Gỡ bế tắc về nuôi con nuôi kéo dài 15 năm
Ngày 8/4, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định hồ sơ Chính sách của Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi).
Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo trình bày Tờ trình Chính sách của Luật NCN (sửa đổi), Phó Cục trưởng Cục Hành chính tư pháp (Bộ Tư pháp) Phan Đăng Kiên cho biết, Luật NCN được Quốc hội khóa XII thông qua tại Kỳ họp thứ 7, ngày 17/6/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011. Luật được ra đời trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế, yêu cầu cấp thiết phải xây dựng một khuôn khổ pháp lý thống nhất, minh bạch, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về bảo vệ trẻ em và NCN. Luật NCN đã có một bước phát triển quan trọng, chuyển từ khuôn khổ pháp lý phân tán sang một hệ thống pháp lý đầy đủ, có trọng tâm, lấy lợi ích tốt nhất của trẻ em làm mục tiêu cao nhất.

Tuy nhiên, trải qua 15 năm thi hành, một số quy định của Luật NCN không đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, gây khó khăn hoặc giảm hiệu quả của công tác giải quyết NCN cũng như công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Từ đó, cơ quan chủ trì soạn thảo đề xuất 4 Chính sách. Cụ thể, Chính sách 1: Quy định chặt chẽ điều kiện, thủ tục giải quyết NCN nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em và phù hợp với thông lệ quốc tế; Chính sách 2: Sửa đổi, bổ sung quy định của Luật NCN nhằm bảo đảm thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; Chính sách 3: Phát triển hoạt động công tác xã hội trong giải quyết NCN nhằm nâng cao chất lượng và đảm bảo tính chuyên nghiệp của công tác giải quyết NCNl; Chính sách 4: Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính gắn với tăng cường phân cấp, ứng dụng công nghệ thông tin nhằm tạo thuận lợi cho người dân.
Bổ sung chính sách riêng về “hậu kiểm”
Tại cuộc họp, các ý kiến cơ bản nhất trí với sự cần thiết sửa đổi Luật sau hơn 15 năm thi hành nhằm xử lý các bất cập phát sinh trong thực tiễn. Tuy nhiên, các ý kiến nhấn mạnh yêu cầu quan trọng là phải làm rõ mối liên hệ giữa các vướng mắc thực tế và các nhóm chính sách đề xuất, bảo đảm tính thuyết phục và khả thi của hồ sơ.

Góp ý đối với hồ sơ Chính sách, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú đề nghị, cần thể hiện rõ nét hơn 12 nhóm vấn đề khó khăn, vướng mắc. Đặc biệt, cần lý giải đầy đủ việc “chuyển hóa” từ 12 nhóm vấn đề này thành 4 nhóm chính sách trong hồ sơ. Việc này phải được làm rõ để chứng minh các chính sách đề xuất thực sự giải quyết được các tồn tại.
Một nội dung được Thứ trưởng đặc biệt lưu ý là yêu cầu bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất của hệ thống pháp luật, nhất là với Bộ luật Dân sự năm 2015. Dẫn ví dụ về quy định xác định dân tộc của con nuôi, Thứ trưởng cho biết, Luật NCN hiện hành quy định theo cha mẹ nuôi theo hướng “cứng”, trong khi Bộ luật Dân sự lại có cơ chế linh hoạt hơn, cho phép xác định lại theo cha mẹ đẻ. Do đó, cần nghiên cứu viện dẫn hoặc áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự để bảo đảm tính linh hoạt, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích của trẻ em.
Về cải cách thủ tục hành chính, Thứ trưởng ủng hộ mạnh mẽ xu hướng đơn giản hóa, tạo thuận lợi cho người dân. Tuy nhiên, đi cùng với đó phải là việc siết chặt các điều kiện để bảo đảm kiểm soát chặt chẽ, phòng ngừa rủi ro. Tinh thần này cần được thể hiện rõ trong hồ sơ chính sách, tránh tình trạng nới lỏng đồng loạt dẫn đến khó kiểm soát trong thực tiễn.
Để nâng cao tính logic và tránh chồng chéo, Thứ trưởng đề nghị rà soát, sắp xếp lại các nhóm chính sách. Cụ thể, Chính sách 1 nên tập trung vào các điều kiện đối với người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi; trong khi các nội dung về trình tự, thủ tục cần chuyển toàn bộ sang Chính sách 4 để bảo đảm rõ ràng, minh bạch.
Đối với Chính sách 3 về công tác xã hội, Thứ trưởng đưa ra hai phương án: tích hợp vào Chính sách 1 như một nhóm chủ thể tham gia, còn nếu tách riêng để nhấn mạnh thì phải xác định rõ phạm vi, tránh trùng lặp.
Đáng chú ý, Thứ trưởng đề nghị nghiên cứu bổ sung một chính sách riêng về “hậu kiểm” - quản lý sau khi việc NCN được xác lập. Hiện nay đã có cơ chế báo cáo trong 3 năm, đặc biệt đối với trường hợp có yếu tố nước ngoài, do đó cần luật hóa và tăng cường vai trò giám sát của Nhà nước và xã hội nhằm bảo vệ trẻ em một cách toàn diện.
Từ các nội dung góp ý, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú khái quát 3 yêu cầu trọng tâm đối với đơn vị chủ trì soạn thảo. Thứ nhất, phải đánh giá, phân nhóm rõ các vướng mắc thực tiễn, từ đó đối chiếu với các nhóm chính sách để chứng minh khả năng giải quyết vấn đề. Thứ hai, bảo đảm tính thống nhất, toàn diện của hệ thống pháp luật, đặc biệt là sự tương thích với Bộ luật Dân sự, đồng thời bổ sung cơ chế hậu kiểm. Thứ ba, sắp xếp lại các nhóm chính sách theo hướng tách bạch rõ giữa “điều kiện” và “thủ tục”, xử lý triệt để sự chồng chéo giữa các chính sách.
Bên cạnh đó, Thứ trưởng đề nghị đơn vị soạn thảo khai thác tối đa số liệu từ các phụ lục, nhất là số liệu về NCN trong nước và có yếu tố nước ngoài, để đưa vào phần đánh giá tác động, qua đó tăng tính thuyết phục cho các đề xuất chính sách trước khi trình Chính phủ.