Báo Đại Đoàn Kết Kinh tế

Doanh nghiệp đủ năng lực cung ứng xăng sinh học

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Doanh nghiệp đủ năng lực cung ứng xăng sinh học

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News
Doanh nghiệp đủ năng lực cung ứng xăng sinh học
Phát triển xăng ethanol, giảm áp lực xăng khoáng. Ảnh: H.H

Triển khai xăng sinh học E10 trên toàn quốc là phương án tối ưu, làm giảm sự phụ thuộc vào xăng khoáng nhất là trong bối cảnh xung đột quân sự tại Trung Đông đẩy giá xăng dầu lên cao.

Phối trộn xăng ethanol, giảm nhu cầu xăng khoáng

Ông Trịnh Quang Khanh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam phân tích, mỗi năm Việt Nam tiêu thụ khoảng 12 triệu m³ xăng. Nếu phối trộn được khoảng 1,2 triệu m³ ethanol, lượng xăng khoáng cần sử dụng sẽ giảm đáng kể, qua đó góp phần giảm áp lực trong kinh doanh xăng khoáng.

Ông Trịnh Quang Khanh cũng cho biết, với kinh nghiệm triển khai gần 10 năm phối trộn, kinh doanh xăng E5 RON 92, các thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu đặc biệt là các thương nhân đầu mối lớn đều có đủ năng lực phối trộn và cung ứng các loại xăng E5, E10 theo đúng lộ trình quy định của Bộ Công thương.

Theo lộ trình, từ 1/6 tới, xăng sinh học E10 sẽ được triển khai trên toàn quốc. Cụ thể theo Thông tư 50/2025/TT-BCT của Bộ Công Thương ngày 7/11/2025 quy định lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống: Từ ngày 01/6/2026, xăng không chì theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia phải phối trộn ethanol để trở thành xăng E10, sử dụng cho động cơ xăng trên phạm vi toàn quốc; xăng E5 RON92 tiếp tục được phối trộn, sản xuất và sử dụng đến hết ngày 31/12/2030, nhằm bảo đảm nguồn cung và sự thích ứng của thị trường.

Ông Đỗ Minh Quân, Phòng Quản lý kinh doanh xăng dầu và khí (Bộ Công Thương) Việt Nam cho biết, hiện có 6 nhà máy sản xuất cồn, nhưng mới chỉ khoảng 3 nhà máy đang hoạt động và cũng chưa vận hành hết công suất do trước đây thị trường chưa đủ lớn. Nếu cả 6 nhà máy cùng hoạt động tối đa theo công suất thiết kế, sản lượng có thể đạt khoảng 400.000 - 500.000 m³, tương đương đáp ứng khoảng 40% nhu cầu ethanol trong nước.

Như vậy, trong giai đoạn đầu triển khai lộ trình, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng 60% ethanol từ nước ngoài.

Bộ Công Thương đang phối hợp với các bộ, ngành, hiệp hội và doanh nghiệp để hỗ trợ nhập khẩu ethanol, đồng thời thúc đẩy khôi phục các nhà máy hiện còn đóng cửa hoặc chưa vận hành hết công suất. Khi thị trường hình thành ổn định, việc khôi phục và mở rộng sản xuất trong nước sẽ giúp Việt Nam từng bước chủ động hơn về nguồn cung ethanol, giảm dần phụ thuộc vào nhập khẩu.

Doanh nghiệp cần được chủ động hơn

Theo ông Hồ Ngọc Linh, Phó Trưởng phòng Kỹ thuật xăng dầu - Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam, Petrolimex xác định nhu cầu ethanol phục vụ pha chế xăng sinh học E10 của toàn hệ thống hiện vào khoảng 45.000 - 50.000 m³ mỗi tháng.

Theo đánh giá chung, sản lượng E100 trong nước hiện mới đáp ứng được khoảng 20.000 m³ mỗi tháng. Vì vậy, đối với phần còn lại, ngay từ đầu tháng 3, Petrolimex đã chủ động đàm phán với các đối tác từ Hoa Kỳ, Singapore và Hàn Quốc để ký kết cả hợp đồng dài hạn lẫn ngắn hạn, bảo đảm nguồn cung E100 ổn định phục vụ pha chế E10 và đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng được giao.

Thông tin cụ thể hơn về việc nhập khẩu nhiên liệu để pha chế xăng sinh học, ông Bùi Ngọc Bảo, Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam cho hay, trong giai đoạn 2026 - 2027 và các năm tiếp theo, có thể khẳng định Việt Nam vẫn cần nhập khẩu khoảng 70 - 80% nhu cầu ethanol, tương đương khoảng 700.000 đến xấp xỉ 1 triệu m³ mỗi năm.

“Nguồn cung phù hợp nhất hiện nay là từ Hoa Kỳ và Brazil, trong đó Hoa Kỳ là thị trường đặc biệt quan trọng. Với quãng đường vận chuyển xa như vậy, rõ ràng phải có tàu lớn và hệ thống logistics đủ mạnh; không thể chia nhỏ thành nhiều lô hàng nhỏ lẻ. Vì vậy, cùng với nhu cầu ngày càng lớn tại Đông Nam Á, xu hướng hình thành các hub trung chuyển ethanol tại khu vực là tất yếu.

Theo Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam, để ổn định nguồn cung ethanol, doanh nghiệp cần được tạo điều kiện hơn về thuế nhập khẩu ethanol và đặc biệt là vấn đề thuế nhà thầu đối với hàng hóa gửi tại kho ngoại quan.

Đây hiện đang là một điểm nghẽn lớn mà nếu tháo gỡ được, Việt Nam hoàn toàn có thể hình thành các kho hub ethanol lớn. Khi đó, doanh nghiệp chỉ cần mua hàng từ kho ngoại quan trong nước, giảm áp lực tồn chứa, giảm chi phí tài chính và hạ giá thành. Đây là giải pháp rất thực tế để ổn định nguồn cung và hỗ trợ thị trường phát triển bền vững.

Hồ Hương