Báo Đại Đoàn Kết Dân tộc và Tôn giáo

Đổi mới công tác dân tộc tại Đắk Lắk: Từ tham mưu chính sách đến kiến tạo động lực phát triển - Bài 1: Đặt công tác dân tộc vào tầm nhìn phát triển dài hạn

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Đổi mới công tác dân tộc tại Đắk Lắk: Từ tham mưu chính sách đến kiến tạo động lực phát triển - Bài 1: Đặt công tác dân tộc vào tầm nhìn phát triển dài hạn

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Với 45 dân tộc cùng sinh sống, 81 xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi, trong đó có 51 xã khu vực III và 449 thôn, buôn đặc biệt khó khăn, Đắk Lắk đang đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ công tác dân tộc. Từ việc tham mưu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TU về công tác dân tộc và tôn giáo giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045, đến xây dựng Đề án phát triển toàn diện 20 xã điểm, ngành công tác dân tộc tỉnh đang từng bước khẳng định vai trò tham mưu chiến lược, kết nối chính sách với thực tiễn và kiến tạo những động lực phát triển mới cho vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Đắk Lắk là địa phương có không gian văn hóa đa dạng với 45 dân tộc cùng sinh sống. Sự phong phú về phong tục, tập quán, ngôn ngữ, lễ hội, nghề truyền thống và tri thức bản địa tạo nên những giá trị đặc sắc, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải có cách tiếp cận phù hợp trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc.

Thường trực Tỉnh ủy tỉnh Đắk Lắk trao tặng nhà Đại đoàn kết cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo xã Cư Pui tại Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc xã Cư Pui năm 2025. Ảnh: TL
Thường trực Tỉnh ủy tỉnh Đắk Lắk trao tặng nhà Đại đoàn kết cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo xã Cư Pui tại Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc xã Cư Pui năm 2025. Ảnh: TL

Thực tiễn đòi hỏi công tác dân tộc phải có cách tiếp cận mới

Theo kết quả phân định giai đoạn 2026-2030, toàn tỉnh có 81 xã vùng đồng bào DTTS và miền núi, gồm 16 xã khu vực I, 14 xã khu vực II và 51 xã khu vực III; cùng 449 thôn, buôn đặc biệt khó khăn. Trong khi đó, nhu cầu đầu tư về hạ tầng, sinh kế, giảm nghèo, giáo dục, y tế, văn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại nhiều địa bàn vẫn còn rất lớn. Thực tiễn đó đòi hỏi công tác dân tộc phải có cách tiếp cận mới.

Một dấu ấn quan trọng là ngày 15/5/2026, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TU về công tác dân tộc và tôn giáo giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đằng sau nghị quyết chuyên đề này là một vai trò ngày càng rõ nét của ngành công tác dân tộc, quyết tâm đưa công tác dân tộc, tôn giáo lên một tầm nhìn mới.

Ông Nguyễn Hoàng Giang, Tỉnh ủy viên, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Đắk Lắk cho rằng, Nghị quyết 07-NQ/TU đã đặt công tác dân tộc và tôn giáo trong tổng thể chiến lược phát triển của tỉnh, gắn với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

“Đặc biệt, việc xác định tầm nhìn đến năm 2045 cho thấy tư duy dài hạn trong công tác dân tộc. Đây cũng là điểm mà vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc được thể hiện rõ: không chỉ “thực hiện chính sách”, mà phải tham mưu để chính sách đi trước, nhận diện đúng vấn đề và tạo không gian để vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phát triển” . Ông Nguyễn Hoàng Giang nhấn mạnh.

Ông Lương Nguyễn Minh Triết, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk chủ trì buổi làm việc với Sở Dân tộc và Tôn giáo về tình hình thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo trên địa bàn tỉnh.
Ông Lương Nguyễn Minh Triết, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk chủ trì buổi làm việc với Sở Dân tộc và Tôn giáo về tình hình thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo trên địa bàn tỉnh.

Từ “hỗ trợ” sang “kiến tạo phát triển”

Một trong những chuyển biến quan trọng trong tư duy công tác dân tộc ở Đắk Lắk là chuyển từ hỗ trợ trực tiếp sang tạo năng lực phát triển cho người dân và cộng đồng.

Nếu trước đây chính sách dân tộc chủ yếu tập trung giúp đồng bào vượt qua khó khăn, thì yêu cầu mới là tạo điều kiện để người dân có khả năng tự vươn lên, trở thành chủ thể của quá trình phát triển.

Để hiện thực hóa tư duy đó, vai trò của ngành công tác dân tộc ngày càng quan trọng. Sở Dân tộc và Tôn giáo không chỉ là cơ quan triển khai chính sách từ Trung ương và của tỉnh xuống cơ sở, mà còn phải làm tốt vai trò tham mưu, điều phối, hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá và đề xuất hoàn thiện chính sách từ thực tiễn. Đây chính là cầu nối giữa chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước với đời sống đồng bào.

Một hộ nghèo không chỉ cần được hỗ trợ để thoát nghèo mà cần một sinh kế đủ bền vững để không tái nghèo. Một sản phẩm nông nghiệp không chỉ cần hỗ trợ sản xuất mà phải được kết nối với chế biến, thương hiệu và thị trường. Một giá trị văn hóa không chỉ cần được bảo tồn mà phải được phát huy để trở thành nguồn lực cho phát triển.

Từ đó, công tác dân tộc phải hướng đến một phương thức mới: lấy người dân làm trung tâm, cộng đồng làm chủ thể; lấy phát triển kinh tế làm nền tảng, văn hóa làm nguồn lực và hiệu quả thực tế trong đời sống Nhân dân làm thước đo; lấy quốc phòng, an ninh làm điều kiện bảo đảm và lấy hiệu quả thực tế làm tiêu chí đánh giá chính sách.

Đề án 20 xã điểm – biến chủ trương thành mô hình thực tiễn

Nếu Nghị quyết 07-NQ/TU là nền tảng chính trị và định hướng chiến lược, thì Quyết định số 2648/QĐ-UBND ngày 21/8/2026 của UBND tỉnh phê duyệt Đề án “Xây dựng và phát triển toàn diện 20 xã điểm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2026-2030” là bước cụ thể hóa quan trọng.

Trong điều kiện nhu cầu đầu tư tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi rất lớn, trong khi nguồn lực luôn có giới hạn, việc lựa chọn một số địa bàn có tính đại diện để tập trung nguồn lực, triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, theo dõi, đánh giá, tổng kết và nhân rộng là một cách tiếp cận có tính đổi mới.

20 xã điểm không đơn thuần là 20 xã được ưu tiên đầu tư; đó là 20 địa bàn để thử nghiệm, kiểm chứng và hoàn thiện một phương thức phát triển mới.

Tại những địa bàn này, các chủ trương của Nghị quyết 07-NQ/TU được cụ thể hóa thành những mô hình phát triển cụ thể; những cách làm mới được triển khai trong thực tiễn; hiệu quả được đo bằng sự thay đổi của đời sống người dân. Những mô hình phù hợp sẽ được tổng kết, hoàn thiện và nhân rộng.

Nói cách khác, nếu Nghị quyết 07 là “tầm nhìn”, thì Đề án 20 xã điểm là “phép thử” của tầm nhìn đó trong thực tiễn.

Đây cũng là điểm tạo nên dấu ấn riêng của Đắk Lắk. Thay vì chỉ đặt mục tiêu hoàn thành một danh mục công trình hoặc giải ngân một nguồn vốn, Đề án hướng tới hình thành những địa bàn phát triển toàn diện, có mô hình cụ thể, có khả năng đo lường và có sức lan tỏa.

Ông Nguyễn Hoàng Giang, Đại biểu Quốc hội, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo thăm, tặng quà bà con đông bào DTTS.
Ông Nguyễn Hoàng Giang, Đại biểu Quốc hội, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo thăm, tặng quà bà con đông bào DTTS.

Mỗi địa bàn một lợi thế, không thể một công thức chung

Một yêu cầu đặt ra trong triển khai chính sách dân tộc là phải tránh tư duy bình quân, dàn trải. Bởi thực tế cho thấy, các xã vùng đồng bào DTTS và miền núi của Đắk Lắk có điều kiện rất khác nhau. Có địa phương có thế mạnh về nông nghiệp hàng hóa; có nơi có lợi thế về lâm nghiệp, dược liệu; có nơi có tiềm năng du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng; có nơi nổi bật về nghề truyền thống, sản phẩm OCOP hoặc những giá trị văn hóa đặc sắc.

Vì vậy, ngành công tác dân tộc phải cùng địa phương nhận diện đúng lợi thế, khó khăn và nhu cầu của từng địa bàn để tham mưu giải pháp phù hợp. Mục tiêu chung vẫn là nâng cao đời sống Nhân dân, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, giữ gìn văn hóa và củng cố hệ thống chính trị.

Nhưng cách làm phải xuất phát từ thực tiễn. Một công trình giao thông phải mở ra cơ hội tiếp cận thị trường. Một công trình nước sạch phải góp phần nâng cao chất lượng sống. Nhà sinh hoạt cộng đồng phải trở thành không gian văn hóa. Chuyển đổi số phải giúp người dân tiếp cận thông tin, dịch vụ, thị trường và quảng bá sản phẩm.

Đó là chuyển từ đầu tư cho công trình sang đầu tư cho năng lực phát triển.

Văn hóa – từ đối tượng bảo tồn thành nguồn lực phát triển

Sự hiện diện của 45 dân tộc là một lợi thế đặc biệt của Đắk Lắk. Mỗi cộng đồng mang trong mình những giá trị về tiếng nói, lễ hội, âm nhạc, trang phục, nghề truyền thống, ẩm thực, kiến trúc và tri thức bản địa.

Với ngành công tác dân tộc, bảo tồn văn hóa vì thế không chỉ là giữ lại những giá trị của quá khứ mà phải tạo điều kiện để văn hóa tiếp tục sống trong cộng đồng và đóng góp cho phát triển.

Một nghề truyền thống có thể trở thành sản phẩm hàng hóa. Một lễ hội có thể kết nối với du lịch. Một không gian buôn làng có thể trở thành điểm đến văn hóa. Một sản phẩm ẩm thực có thể trở thành sản phẩm đặc trưng của địa phương.

Tuy nhiên, phát triển văn hóa phải đi cùng bảo tồn bản sắc. Hiện đại hóa không có nghĩa là xóa nhòa căn tính văn hóa; phát triển không có nghĩa là đánh đổi những giá trị đã được cộng đồng trao truyền qua nhiều thế hệ.

Đây cũng là một trong những bài toán mà ngành công tác dân tộc phải tham mưu để giải quyết hài hòa trong quá trình phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Điểm đáng chú ý trong cách Đắk Lắk triển khai chính sách dân tộc là từng bước hình thành mối liên kết giữa tham mưu chính sách – xây dựng mô hình – tổ chức thực hiện – kiểm tra, đánh giá – tổng kết – nhân rộng.

Trong chuỗi đó, Sở Dân tộc và Tôn giáo vừa phải nắm chắc tình hình cơ sở, vừa tham mưu chính sách phù hợp; vừa hướng dẫn triển khai, vừa theo dõi kết quả; đồng thời phải phát hiện những mô hình tốt, những điểm nghẽn trong thực tiễn để tham mưu cấp có thẩm quyền xử lý.

Và nếu làm tốt, 20 xã điểm sẽ không chỉ tạo ra những địa bàn có diện mạo mới, mà quan trọng hơn, sẽ tạo ra những kinh nghiệm mới cho công tác dân tộc của toàn tỉnh.

Từ những mô hình ấy, một câu hỏi lớn hơn đang được đặt ra: làm thế nào để kinh nghiệm từ 20 xã điểm có thể lan tỏa đến 51 xã và 449 thôn đặc biệt khó khăn?

Câu trả lời nằm ở bước đi tiếp theo mà ngành công tác dân tộc Đắk Lắk đang tham mưu: xây dựng một Đề án có quy mô rộng hơn, với mục tiêu đến năm 2030 toàn tỉnh không còn xã, thôn thuộc diện đặc biệt khó khăn.

Văn Hoa – Bá Thăng