Báo Đại Đoàn Kết Kinh tế

Đồng bằng sông Cửu Long: Tạo thế cho nông nghiệp

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Đồng bằng sông Cửu Long: Tạo thế cho nông nghiệp

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Mặc dù Luật Đất đai năm 2013 quy định, chỉ giao tối đa 3ha đất cho nông dân trồng lúa ở vùng đồng bằng sông Cửu Long nhưng thực tế đất mà các địa phương của vùng giao cho nông dân canh tác hầu như không đáp ứng được so với quy định. Tình trạng sản xuất nhỏ lẻ đã khiến nhiều nông hộ khó thoát nghèo, không thể làm giàu từ cây lúa.

Câu chuyện về việc tìm giải pháp và hướng đi để phát triển ổn định ngành hàng lúa gạo đang được Chính phủ và các Bộ ngành có liên quan bàn bạc tìm hướng đi bền vững. Vấn đề đặt ra lúc này là tiếp tục giữ những thửa ruộng nhỏ lẻ hay là phải nhanh chóng mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng sản xuất hàng hóa để nông sản Việt Nam đủ sức cạnh tranh trong một thị trường hội nhập.

Mô hình cánh đồng lớn ở An Giang.

Quy mô nhỏ đang kìm hãm sản xuất lớn

Mặc dù Luật Đất đai năm 2013 quy định, chỉ giao tối đa 3ha đất cho nông dân trồng lúa ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nhưng thực tế đất mà các địa phương của vùng giao cho nông dân canh tác hầu như không đáp ứng được so với quy định. Ông Trần Anh Thư, Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh An Giang cho biết, nhiều năm nay, ngành nông nghiệp Việt Nam luôn trong tình trạng loay hoay tiến lên sản xuất hàng hóa quy mô lớn trong khi đó 75% nông hộ đang trong tình trạng có diện tích ruộng đất dưới 0,5 ha. Cụ thể như An Giang, được coi là nơi có sản lượng lúa nhất, nhì vùng ĐBSCL, nơi có tiềm năng rất lớn về sản xuất nông nghiệp hàng hóa, nhưng nghịch lý là, có đến 75% số hộ nông dân có diện tích canh tác lúa dưới 1ha.

Tình trạng sản xuất nhỏ lẻ đã khiến nhiều nông hộ khó thoát nghèo và làm giàu từ cây lúa vì thực tiễn cho thấy, muốn làm giàu, phải có từ 3ha trở lên. Ngoài ra sản xuất quy mô nhỏ còn khiến cho việc áp dụng cơ giới hóa, khoa học công nghệ gặp nhiều khó khăn dẫn đến hiệu quả canh tác thấp. Trong khi các Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp kiểu mới còn chậm phát triển, chính sách thúc đẩy tích tụ đất đai chậm thay đổi, thị trường cho thuê đất nông nghiệp kém sôi động là một trong những rào cản đối với tăng quy mô sản xuất nông hộ.

Từ những rào cản trên, ông Trần Anh Thư cho rằng: Ngành nông nghiệp các tỉnh ĐBSCL cũng như An Giang phải chọn lọc một số ngành hàng để đi theo hướng có thế mạnh, có lợi thế so sánh… nhằm đáp ứng được các tiêu chí nêu trên. Trong đó, mở rộng hạn điền, tích tụ ruộng đất là một trong những điều kiện kiên quyết phải làm...

Trường hợp cụ thể của ông Nguyễn Lợi Đức, chủ trang trại Sáu Đức, ấp Vĩnh Lạc, xã Vĩnh Gia, Tri Tôn, An Giang là một minh chứng. Ông Đức cho biết: Để mở rộng sản xuất, ông phải vay mượn xoay sở mua hoặc thuê đất của tổ chức, cá nhân khác. Trong khi đó chính sách về việc tích luỹ, tích tụ đất đai hiện hành đang là rào cản khiến cho ông và một số nhà đầu tư không dám kết hợp với nhau. Vì vậy ông muốn mở rộng làm ăn cũng không được vì nội lực có hạn.

Cần phá thế “ngã ba đường”

Đa số nông dân sống dựa vào cây lúa đang hưởng lợi nhuận thấp nhất trong chuỗi giá trị ngành hàng lúa gạo, do ruộng đất ít, nhỏ lẻ dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp, phụ thuộc quá nhiều tài nguyên đầu vào, nhất là nguồn nước. Do đó, thời gian tới, để phát triển ngành lúa gạo một cách bền vững trước tình trạng biến đổi khí hậu, để ngành nông nghiệp hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu, điều tiên quyết phải tổ chức lại sản xuất, mở rộng hạn điền, hình thành cánh đồng mẫu lớn. Trong đó cần phát triển liên kết hộ nông dân; tổ chức mô hình hợp tác xã kiểu mới để mang lại thu nhập tốt nhất cho người trồng lúa.

Trong hội nghị về “Giải pháp phát triển bền vững ngành hàng lúa gạo vùng ĐBSCL” tổ chức tại An Giang hồi cuối tháng 2/2017, Bộ NN&PTNT đã đề xuất và kiến nghị Chính phủ: Hỗ trợ hình thành liên kết sản xuất, xây dựng cánh đồng lớn, tiêu thụ sản phẩm và xây dựng thương hiệu lúa gạo… Ông Lê Minh Hoan, Bí thư tỉnh uỷ Đồng Tháp cho rằng: Giờ là lúc nông nghiệp xứ mình (ĐBSCL – PV) đứng trước ngã ba đường. Hoặc là, chúng ta tiếp tục giữ tư duy cố hữu “người cày thì phải có ruộng”; hoặc là phải nhanh chóng mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng sản xuất hàng hóa.

Theo Giáo sư Võ Tòng Xuân - chuyên gia hàng đầu về nông nghiệp Việt Nam và quốc tế nhận định: Muốn sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa trên quy mô lớn thì phải có diện tích lớn, nếu hạn điền như hiện nay thì không thể nào làm lớn được. Chỉ khi sản xuất lớn mới áp dụng cơ giới hóa được, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, từ đó mới nâng cao được năng suất, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm. Qua đó, nông nghiệp Việt Nam mới có được thương hiệu, mới có được những sản phẩm thống nhất, đặc trưng và thúc đẩy công nghiệp hóa nông nghiệp, nâng cao đời sống của người nông dân.

Cũng cần phải xác định rằng, bên cạnh việc đẩy mạnh hạn điền, tích tụ ruộng đất, cơ quan quản lý cần có những chế tài ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp khi đã tham gia liên kết với nông dân, với hợp tác xã. Chính quyền cần giám sát chặt chẽ để làm sao những cam kết của doanh nghiệp với người sản xuất, người nông dân, hợp tác xã đúng quy định thoả thuận từ đầu trên hợp đồng đã cam kết. Con đường để mở rộng hạn điền hướng tới tích tụ ruộng đất để sản xuất quy mô lớn là khách quan và tất yếu trong xu hướng hiện nay. Tuy nhiên, con đường đó chắc chắn sẽ không bằng phẳng, đòi hỏi các bên như người nông dân phải thay đổi nhận thúc cùng tham gia với chính quyền, doanh nghiệp.

Quốc Trung