Dự án 7 góp phần nâng cao chất lượng sức khỏe, dân số vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Lào Cai
Thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia (MTQG) phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, ngành Y tế Lào Cai đã tập trung triển khai Dự án 7 về chăm sóc sức khỏe Nhân dân, nâng cao thể trạng, tầm vóc người dân tộc thiểu số và phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em. Nhiều mô hình chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng cộng đồng, chăm sóc bà mẹ - trẻ em, người cao tuổi và nâng cao chất lượng dân số đã được triển khai, tạo những chuyển biến tích cực tại vùng khó khăn.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện vẫn còn không ít khó khăn về địa hình, nhân lực, nguồn lực và cơ chế chính sách. Phóng viên Báo Đại Đoàn Kết có cuộc trao đổi với ông Lục Hậu Giang, Phó giám đốc Sở Y tế tỉnh Lào Cai, về những kết quả đạt được, cách làm hiệu quả và giải pháp của ngành Y tế trong thời gian tới.

Phóng viên: Thưa ông, trong thực hiện Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Sở Y tế Lào Cai được giao những nhiệm vụ, vai trò gì? Ngành Y tế xác định đâu là những nhiệm vụ trọng tâm, trực tiếp tác động đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống và sức khỏe của đồng bào vùng dân tộc thiểu số, miền núi?
Ông Lục Hậu Giang: Trong Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Sở Y tế Lào Cai là thành viên Ban Chỉ đạo các chương trình MTQG của tỉnh, có trách nhiệm tham mưu, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các nội dung thuộc lĩnh vực y tế, trọng tâm là Dự án 7: Chăm sóc sức khỏe Nhân dân, nâng cao thể trạng, tầm vóc người dân tộc thiểu số; phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em và nội dung 1 về Đầu tư hạ tầng thiết yếu cho Y tế cơ sở (thuộc Tiểu dự án 1, Dự án 4).
Chúng tôi xác định, để tác động trực tiếp đến thể trạng, tầm vóc và chất lượng cuộc sống của đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi, trước hết phải nâng cao chất lượng dân số, thông qua tư vấn, khám sức khỏe trước kết hôn, sàng lọc trước sinh, sơ sinh và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; chăm sóc tốt hơn sức khỏe, dinh dưỡng bà mẹ và trẻ em, nhất là quản lý thai nghén, sinh đẻ an toàn, bổ sung vi chất, theo dõi tăng trưởng và phòng, chống suy dinh dưỡng; đồng thời củng cố y tế cơ sở, nâng cao năng lực Trạm Y tế, mạng lưới y tế thôn bản, cô đỡ thôn bản để người dân được tiếp cận dịch vụ y tế ngay tại địa bàn. Một nội dung chúng tôi đặc biệt coi trọng là truyền thông thay đổi hành vi, từng bước khắc phục những tập quán không có lợi cho sức khỏe, phòng chống tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống. Đây là những giải pháp có tính nền tảng, tác động từ sớm và lâu dài đến sức khỏe, thể trạng và chất lượng dân số vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Từ khi Chương trình được triển khai đến nay, Sở Y tế Lào Cai đã tổ chức thực hiện những nội dung cụ thể nào, nhất là Dự án 7 về chăm sóc sức khỏe Nhân dân, nâng cao thể trạng, tầm vóc người dân tộc thiểu số và phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em? Những kết quả nổi bật nhất mà ngành Y tế Lào Cai đạt được là gì, và những kết quả đó đã tác động như thế nào đến đời sống, sức khỏe của người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thưa ông?
Từ khi Chương trình khởi động đến nay, Sở Y tế Lào Cai đã chỉ đạo đồng bộ các đơn vị y tế từ tỉnh đến cơ sở triển khai quyết liệt các dự án, đặc biệt là Dự án 7. Ngành Y tế đã triển khai đồng thời trên cả ba nhóm nội dung: nâng cao chất lượng dân số; chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, cải thiện dinh dưỡng; và củng cố y tế cơ sở.
Về chất lượng dân số, riêng trong năm 2025 – năm đặc biệt thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp và sắp xếp các đơn vị hành chính, ngành Y tế đã tư vấn sức khỏe trước kết hôn cho 785 thanh niên, sàng lọc trước sinh cho 143 phụ nữ mang thai, sàng lọc sơ sinh cho hơn 1.000 trẻ, khám và tư vấn sức khỏe cho hơn 46.000 người cao tuổi; đồng thời tổ chức truyền thông về dân số, thalassemia và đào tạo cho hàng trăm cán bộ, cộng tác viên.
Về chăm sóc bà mẹ, trẻ em và phòng chống suy dinh dưỡng: 79,9% phụ nữ mang thai được khám thai ít nhất 4 lần trong 3 thai kì, 93,6% phụ nữ sinh tại cơ sở y tế hoặc có cán bộ y tế hỗ trợ; duy trì triển khai 85 mô hình dinh dưỡng 1000 ngày đầu đời, sàng lọc hơn 115.000 trẻ dưới 5 tuổi, góp phần duy trì tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở mức 24,2% và thể nhẹ cân 14%. Đặc biệt, 583/583 điểm tiêm chủng lưu động được triển khai tại các khu vực khó khăn, tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ đạt 98,3%.
Qua đó, người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận sớm hơn với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và sàng lọc; phụ nữ, trẻ em được quản lý, chăm sóc tốt hơn; người cao tuổi được quan tâm sức khỏe và các nguy cơ về dinh dưỡng, bệnh tật, chất lượng dân số được phát hiện, can thiệp ngay từ cộng đồng. Đây chính là tác động thiết thực của Dự án đối với sức khỏe, thể trạng và chất lượng dân số vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Ông có thể cho biết, trong quá trình triển khai các chính sách y tế thuộc Chương trình, ngành Y tế Lào Cai gặp những khó khăn, vướng mắc nào, đặc biệt về nhân lực y tế cơ sở, khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân, nguồn lực và cơ chế, chính sách?
Thực tế triển khai Chương trình cho thấy khó khăn chủ yếu nằm ở cơ chế, hướng dẫn và nguồn lực thực hiện, nhất là trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Một số nội dung đào tạo của Dự án 7 chưa có hướng dẫn đầy đủ hoặc quy định đã hết hiệu lực nên khó triển khai, như đào tạo bác sĩ chuyên khoa I, đào tạo theo nguyên lý y học gia đình và đào tạo nhân viên y tế thôn bản.
Việc mua sắm sản phẩm phục hồi dinh dưỡng, đa vi chất có thời điểm chưa kịp thời; một số nhóm trẻ suy dinh dưỡng chưa được bao phủ đầy đủ do quy định về đối tượng thụ hưởng giữa các chương trình còn khác nhau. Bên cạnh đó, địa bàn rộng, dân cư phân tán, một bộ phận người dân còn duy trì tập quán sinh hoạt, chăm sóc sức khỏe chưa phù hợp cũng ảnh hưởng đến hiệu quả can thiệp.

Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, ngành Y tế Lào Cai đã có những cách làm, mô hình nào được đánh giá là hiệu quả, phù hợp với đặc thù vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi?
Từ thực tiễn triển khai Dự án 7, chúng tôi nhận thấy hiệu quả trước hết đến từ cách tổ chức chủ động, sát cơ sở và phù hợp với từng địa bàn. Ngay từ đầu, ngành chú trọng hướng dẫn, xây dựng kế hoạch và phân bổ nguồn lực sớm để cơ sở chủ động thực hiện; đồng thời lồng ghép các hoạt động giữa các chương trình để tránh chồng chéo, sử dụng hiệu quả nguồn lực.
Trong tổ chức thực hiện, các mô hình như triển khai điểm tiêm chủng ngoại trạm đến tận thôn, bản; mô hình can thiệp dinh dưỡng trong 1.000 ngày đầu đời tại cộng đồng được triển khai gắn với truyền thông phù hợp ngôn ngữ, phong tục của đồng bào.
Đặc biệt, chúng tôi phát huy vai trò của nhân viên y tế thôn bản, cô đỡ thôn bản, cộng tác viên dân số, dinh dưỡng và người có uy tín trong cộng đồng, bởi đây là lực lượng gần dân, hiểu dân và có khả năng vận động thay đổi hành vi tốt nhất.
Cùng với đó là tăng cường theo dõi, kiểm tra để kịp thời điều chỉnh. Qua thực tế cho thấy, ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi, muốn chính sách đi vào cuộc sống thì phải bắt đầu từ cơ sở, lấy người dân và cộng đồng làm trung tâm, đồng thời tổ chức thực hiện linh hoạt theo điều kiện từng địa bàn.
Từ thực tiễn triển khai, Sở Y tế Lào Cai xác định những giải pháp trọng tâm nào để khắc phục các hạn chế, nâng cao hiệu quả Chương trình trong thời gian tới? Ngành sẽ làm gì để củng cố y tế cơ sở, thu hút và giữ chân nhân lực y tế ở vùng khó khăn, đồng thời bảo đảm người dân vùng sâu, vùng xa được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thiết yếu?
Thời gian tới, chúng tôi tập trung vào ba nhóm giải pháp trọng tâm. Trước hết, củng cố y tế cơ sở theo hướng ưu tiên đầu tư cho các Trạm Y tế vùng khó khăn, bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị và năng lực cung cấp dịch vụ thiết yếu. Về nhân lực, ngành sẽ phối hợp với các địa phương tuyển dụng nhân lực tại chỗ, đào tạo theo nhu cầu thực tế của Trạm Y tế, đồng thời đề xuất và thực hiện các chính sách thu hút, hỗ trợ để cán bộ y tế yên tâm công tác lâu dài; tiếp tục phát huy mạng lưới nhân viên y tế thôn bản, cô đỡ thôn bản, cộng tác viên dân số, dinh dưỡng…
Đối với người dân vùng sâu, vùng xa, chúng tôi sẽ duy trì các điểm cung cấp dịch vụ lưu động, tăng cường khám, sàng lọc và truyền thông ngay tại cộng đồng, tập trung vào chăm sóc bà mẹ, trẻ em, dinh dưỡng, tiêm chủng, chăm sóc người cao tuổi và phòng, chống bệnh tật. Cùng với đó, tăng cường ứng dụng hồ sơ sức khỏe điện tử, theo dõi sức khỏe bà mẹ - trẻ em, tư vấn từ xa và giám sát kết quả tại cơ sở, để kịp thời phát hiện nơi còn thấp và có giải pháp hỗ trợ.

Cuối cùng, từ thực tiễn của một tỉnh miền núi, biên giới như Lào Cai, ông có kiến nghị gì với Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương trong việc hoàn thiện cơ chế, chính sách, bố trí nguồn lực và tháo gỡ những vướng mắc về định mức, thủ tục, nhân lực để các chương trình y tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được triển khai hiệu quả, bền vững hơn trong giai đoạn tới?
Từ thực tiễn triển khai giai đoạn vừa qua, chúng tôi nhận thấy để chính sách thực sự đi vào cuộc sống thì cơ chế phải rõ, nguồn lực phải đến đúng lúc và cách tổ chức thực hiện phải phù hợp với đặc thù miền núi. Vì vậy, đối với Chương trình giai đoạn tới, chúng tôi kiến nghị Trung ương tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho y tế cơ sở và các địa bàn đặc biệt khó khăn, đồng thời hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng ổn định, đồng bộ, dễ triển khai, hạn chế phải điều chỉnh nhiều lần trong quá trình thực hiện.
Việc phân bổ kinh phí cần linh hoạt hơn, dựa trên dân số, số lượng đối tượng, mức độ khó khăn và nhu cầu thực tế, có cơ chế điều chỉnh kịp thời khi đối tượng thay đổi; đồng thời rà soát, hoàn thiện định mức chi, nội dung chi và quy trình thanh quyết toán đối với những hoạt động đặc thù tại khu vực miền núi như đi lại, dịch vụ ngoại trạm, truyền thông và chăm sóc người dân tại thôn, bản. Về nhân lực, cần có chính sách đủ sức thu hút, đào tạo và giữ chân cán bộ y tế tại vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.
Cùng với đó, cần tăng tính liên thông, lồng ghép giữa các chương trình, dự án; trao quyền chủ động hơn cho địa phương trong tổ chức thực hiện nhưng phải gắn với kiểm tra, giám sát để nguồn lực không bị phân tán, chồng chéo và sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn. Chúng tôi kỳ vọng với những cơ chế phù hợp hơn với thực tiễn miền núi, Chương trình mới sẽ tạo được chuyển biến bền vững về chăm sóc sức khỏe và chất lượng dân số ở những địa bàn còn nhiều khó khăn.
Xin trân trọng cảm ơn ông!