Báo Đại Đoàn Kết Giáo dục

Đưa dữ liệu và AI vào đào tạo nghề, kết nối cung – cầu lao động

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Đưa dữ liệu và AI vào đào tạo nghề, kết nối cung – cầu lao động

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Trước những biến động của thị trường lao động, Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định chuyển đổi số, phát triển kỹ năng và tăng cường hợp tác giữa Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp là những nhiệm vụ quan trọng để kết nối đào tạo với việc làm.

Các khách mời trao đổi tại tọa đàm Thúc đẩy hợp tác giáo dục nghề nghiệp: Xây dựng hệ sinh thái chuyển đổi số gắn kết hệ sinh thái giáo dục với hệ sinh thái việc làm. Ảnh: BTC.
Các khách mời trao đổi tại tọa đàm Thúc đẩy hợp tác giáo dục nghề nghiệp: Xây dựng hệ sinh thái chuyển đổi số gắn kết hệ sinh thái giáo dục với hệ sinh thái việc làm. Ảnh: BTC.

Ngày 9/10, trong khuôn khổ Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số tại Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hội thảo chuyên đề “Hợp tác giáo dục nghề nghiệp: Xây dựng hệ sinh thái chuyển đổi số gắn kết hệ sinh thái giáo dục với hệ sinh thái việc làm”.

Thị trường lao động đặt ra yêu cầu mới về kỹ năng

Thông tin tại hội thảo, ông Trần Thanh Đạm, Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết sự phát triển nhanh của công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI), mô hình sản xuất, chuyển đổi xanh và biến động nhân khẩu học đang làm thay đổi cơ cấu việc làm cũng như yêu cầu kỹ năng của người lao động.

Theo các ước tính về xu hướng việc làm đến năm 2030, khoảng 22% số việc làm hiện nay có thể thay đổi, với khoảng 170 triệu việc làm mới được tạo ra và 92 triệu việc làm có thể bị thay thế. Những biến động này đặt ra yêu cầu đối với giáo dục nghề nghiệp không chỉ đào tạo kỹ năng ban đầu, mà còn hỗ trợ người lao động thích ứng, đào tạo lại và nâng cao trình độ trong suốt quá trình làm việc.

Tại Việt Nam, quy mô lực lượng lao động khoảng 53,8 triệu người, nhưng tỷ lệ lao động có chứng chỉ mới đạt khoảng 29,8%. Tỷ lệ thất nghiệp thanh niên ở mức 8,67%, trong khi khoảng 1,4 triệu thanh niên không có việc làm, không tham gia học tập hoặc đào tạo.

Các số liệu trên được PGS.TS Vũ Thị Tú Anh, Phó Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên, nêu tại hội thảo khi đề cập yêu cầu phát triển kỹ năng cho người lao động. Những lĩnh vực được xác định có nhu cầu nhân lực đáng chú ý gồm kinh tế số, bán dẫn, năng lượng tái tạo, nông nghiệp công nghệ cao và dịch vụ số.

Để đáp ứng nhu cầu này, giáo dục nghề nghiệp cần đổi mới chương trình, nội dung và phương thức đào tạo, phát triển năng lực số cho nhà giáo, cán bộ quản lý và người học. Việc đào tạo cần gắn với yêu cầu công việc thực tế, giúp người học có khả năng sử dụng công nghệ, phân tích dữ liệu, giải quyết vấn đề và thích ứng với những thay đổi của nghề nghiệp.

Ông Trần Thanh Đạm, Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên, Bộ Giáo dục và Đào tạo phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: BTC.
Ông Trần Thanh Đạm, Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên, Bộ Giáo dục và Đào tạo phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: BTC.

Xây dựng hệ sinh thái số gắn kết nhà trường và doanh nghiệp

Theo ông Trần Thanh Đạm, chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp đang chuyển từ việc ứng dụng công nghệ vào một số hoạt động giảng dạy, quản lý sang tái cấu trúc toàn bộ hệ thống đào tạo.

Trong mô hình này, dữ liệu có vai trò quan trọng trong phân tích nhu cầu kỹ năng, dự báo xu hướng nghề nghiệp, điều chỉnh chương trình đào tạo, theo dõi quá trình học tập và kết nối việc làm. Việc liên thông dữ liệu giáo dục với thông tin về nhu cầu tuyển dụng và kỹ năng nghề nghiệp giúp các cơ sở đào tạo có căn cứ cập nhật chương trình sát hơn với thị trường lao động.

AI và các công nghệ số cũng được xác định là công cụ hỗ trợ nâng cao chất lượng đào tạo, tăng khả năng tiếp cận học liệu và cải thiện hoạt động quản lý. Việc ứng dụng công nghệ cần gắn với nâng cao năng lực của nhà giáo và người học, thay vì chỉ tập trung đầu tư thiết bị hoặc nền tảng.

Một mục tiêu được đặt ra là đến năm 2030, 100% cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng và giáo dục nghề nghiệp hoàn thiện mô hình quản trị số, hoạt động số, chuẩn hóa dữ liệu số và kho học liệu số mở.

Để thực hiện mục tiêu này, chuyển đổi số cần được triển khai đồng bộ từ thể chế, quản trị, hạ tầng, dữ liệu đến đội ngũ nhà giáo, chương trình và phương pháp đào tạo. Cùng với đó là tăng cường hợp tác quốc tế, bảo đảm an toàn và an ninh mạng.

Về quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp, PGS.TS Vũ Thị Tú Anh cho rằng các bên cần phối hợp ngay từ khâu xác định nhu cầu nhân lực, xây dựng chuẩn đầu ra, thiết kế chương trình, tổ chức thực hành đến đánh giá kỹ năng và tuyển dụng.

Doanh nghiệp không chỉ tiếp nhận sinh viên thực tập hoặc tuyển dụng sau khi tốt nghiệp, mà cần tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo, cung cấp môi trường thực hành, công nghệ và đánh giá năng lực người học. Hiệu quả hợp tác cần được đo bằng chất lượng thực hành, tỷ lệ việc làm đúng nghề và mức độ hài lòng của doanh nghiệp.

Quang cảnh Hội thảo. Ảnh: BTC.
Quang cảnh Hội thảo. Ảnh: BTC.

Bà Mish Eastman, Phó Hiệu trưởng phụ trách giáo dục nghề nghiệp, Đại học RMIT, cũng nhấn mạnh yêu cầu phát triển năng lực thích ứng, tư duy giải quyết vấn đề, giao tiếp và học tập suốt đời. Người lao động không chỉ cần kỹ năng phục vụ công việc hiện tại, mà còn phải có khả năng tiếp tục học tập khi công nghệ và yêu cầu nghề nghiệp thay đổi.

Cùng với việc đổi mới đào tạo chính quy, giáo dục nghề nghiệp cần mở rộng các hình thức học tập linh hoạt như đào tạo theo mô-đun, học tập kết hợp và chứng nhận kỹ năng ngắn hạn. Hồ sơ năng lực số cũng có thể hỗ trợ ghi nhận quá trình học tập, kỹ năng đã tích lũy và những năng lực người lao động cần bổ sung.

Việc kết nối dữ liệu về nhu cầu kỹ năng, vị trí việc làm, chuẩn nghề, xu hướng công nghệ, kết quả học tập và khả năng có việc làm sẽ tạo cơ sở để các bên điều chỉnh hoạt động. Nhà trường có thể cập nhật chương trình, doanh nghiệp chủ động tham gia đào tạo, còn người học nhận biết rõ hơn yêu cầu của từng vị trí việc làm và lộ trình phát triển nghề nghiệp.

Thu Hương