Gần 600.000 doanh nghiệp “bỏ trống” mã số thuế: Vì sao chưa thể đóng sổ?
Gần 600.000 doanh nghiệp đang ở trạng thái ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế hoặc không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký.
Theo Cục Thuế, đây là lượng tồn đọng tích lũy qua nhiều thời kỳ, xuất phát từ những vướng mắc về thủ tục rút lui khỏi thị trường, ý thức tuân thủ, tổ chức thực hiện, dữ liệu và phối hợp giữa các cơ quan quản lý.
Trạng thái mã số thuế là chỉ số quan trọng phản ánh tình trạng hoạt động thực tế của người nộp thuế (NNT) bao gồm doanh nghiệp (DN), tổ chức và hộ kinh doanh. Việc xác định đúng trạng thái MST giúp NNT thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế, tránh rủi ro pháp lý và hỗ trợ cơ quan thuế làm sạch dữ liệu, ngăn chặn gian lận. Theo quy định tại Phụ lục I Danh mục trạng thái MST ban hành kèm theo Thông tư số 90/2026/TT-BTC hướng dẫn về đăng ký thuế, trạng thái 03 và 06 thuộc nhóm các trạng thái cần đặc biệt lưu ý.
Theo quy định MST trạng thái 03 là trạng thái người nộp thuế ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế. Còn trạng thái 06 là trường hợp người nộp thuế bị cơ quan thuế thông báo không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký sau quá trình rà soát, xác minh theo quy định.
Theo thống kê, tại thời điểm tháng 6/2026, số lượng DN ở 2 tình trạng nêu trên là gần 600.000 DN.
Trong 8 tháng đầu năm 2026, ngành thuế đã hoàn tất chấm dứt hiệu lực mã số thuế cho 94.991 DN, tổ chức, bằng 209% cùng kỳ năm 2025. Trong đó, 23.017 DN, tổ chức đề nghị chấm dứt hiệu lực mã số thuế trong năm 2026 do không còn nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh; 71.974 DN, tổ chức có hồ sơ nộp từ năm 2025 về trước, được cơ quan thuế xử lý trong Chiến dịch “Làm sạch mã số thuế”.
Đồng thời, cơ quan thuế các cấp đã hỗ trợ rà soát và khôi phục mã số thuế để 3.554 DN quay trở lại hoạt động sản xuất kinh doanh.
Theo ông Nguyễn Đức Huy - Phó ban Nghiệp vụ (Cục Thuế), qua rà soát hồ sơ và kết quả triển khai Chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”, cơ quan thuế nhận thấy tình trạng NNT ở trạng thái 03 và 06 là tồn đọng tích lũy qua nhiều thời kỳ.
Thứ nhất, cơ chế, chính sách và thủ tục gia nhập thị trường ngày càng được đơn giản hóa, trong khi việc rút khỏi thị trường, giải thể và chấm dứt hiệu lực MST phải hoàn thành nhiều thủ tục, nghĩa vụ với cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.
Với NNT đã ngừng hoạt động nhưng còn thiếu hồ sơ khai thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp, nợ thuế, lệ phí môn bài hoặc các nghĩa vụ tồn đọng khác, việc hoàn tất thủ tục theo quy trình thông thường gặp nhiều khó khăn.
Một số trường hợp nợ đã khoanh, nợ không có khả năng thu... cũng chưa có cơ chế kết thúc phù hợp.
Thứ hai, nhận thức và mức độ tuân thủ pháp luật về tạm ngừng, giải thể, chấm dứt hoạt động của NNT còn hạn chế. Có trường hợp tự ngừng hoạt động, bỏ địa chỉ đăng ký mà không thông báo; không nộp đầy đủ hồ sơ khai thuế, không phối hợp với cơ quan thuế hoặc lựa chọn bỏ địa chỉ vì cho rằng đơn giản hơn việc thực hiện thủ tục giải thể.
Khi ngừng hoạt động, nhiều DN đã cắt giảm bộ máy, trả mặt bằng, không còn kế toán, con dấu, chữ ký số hoặc không lưu giữ đầy đủ sổ sách, hóa đơn, chứng từ...
Thứ ba, về tổ chức thực hiện của cơ quan thuế, việc giải quyết hồ sơ giải thể, chấm dứt hoạt động tại một số địa bàn còn chậm; việc kiểm tra quyết toán, ban hành biên bản, kết luận và xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế có trường hợp chưa kịp thời.
Nguồn lực xử lý chưa tương xứng với khối lượng hồ sơ tồn đọng. Công cụ cảnh báo sớm, phân loại rủi ro và theo dõi kết quả xử lý chưa đáp ứng yêu cầu...
Thứ tư, về dữ liệu và phối hợp liên ngành, dữ liệu lịch sử trên các hệ thống quản lý có trường hợp thiếu, sai lệch hoặc không còn hồ sơ gốc. Thông tin định danh, địa chỉ, người đại diện theo pháp luật và trạng thái hoạt động giữa cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư chưa hoàn toàn đồng bộ...