Giữ ổn định lãi suất
Ngân hàng Nhà nước vừa có yêu cầu các ngân hàng phải tập trung triển khai giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất, tuân thủ quy định về niêm yết lãi suất tiền gửi và trần lãi suất. Đồng thời, ngân hàng tăng cường kiểm tra nội bộ, xử lý nghiêm các vi phạm liên quan đến lãi suất
Lãi suất huy động tiệm cận 9 - 10%
Cuộc đua hút tiền gửi trong hệ thống ngân hàng đang nóng lên rõ rệt khi mặt bằng lãi suất huy động liên tục được điều chỉnh tăng, thậm chí xuất hiện các mức lãi suất tiệm cận 9–10%/năm dành cho những khoản tiền gửi lớn.
Thị trường ghi nhận “làn sóng” nâng lãi suất, nhiều đơn vị sẵn sàng đưa mức lãi xấp xỉ 9% cho khoản tiền gửi chỉ từ vài trăm triệu đồng.
Mới nhất, Ngân hàng Đông Nam Á (SeABank) tung ưu đãi lãi suất lên tới 9% một năm cho khoản tiền gửi từ 800 triệu đồng, kỳ hạn 12 tháng. Với các khoản tiền từ 100 triệu đến dưới 800 triệu đồng, lãi suất khoảng 8,9% một năm.
Tại Ngân hàng Vikki (Vikki Bank), lãi suất kỳ hạn 6-12 tháng được nhân viên chào lãi suất 9-9,2% một năm, áp dụng cho khoản tiền gửi từ 200 triệu đồng. Khách hàng có thể chủ động giao dịch trực tuyến, chỉ cần nhập mã khách hàng giới thiệu.
Tại Ngân hàng Tiên Phong (TPBank), tiền gửi từ 100 triệu đồng được chào lãi suất 8,5% một năm cho kỳ hạn 6 tháng; 8,6% một năm với kỳ hạn 12 tháng. Với khoản tiền dưới 100 triệu đồng, mức lãi suất khoảng 7,8% một năm.
Ngân hàng Nam Á (Nam A Bank) áp dụng lãi suất lên tới 8,7% một năm, đồng thời triển khai chương trình lì xì lên đến 2 triệu đồng cho khách hàng gửi tiền. Trong khi đó, Ngân hàng Quốc dân (NCB) niêm yết lãi suất 8,8% một năm cho kỳ hạn 6 tháng, các kỳ hạn 12-13 tháng ở mức 8,85% một năm...
Trong bối cảnh làn sóng lãi suất huy động tăng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ra yêu cầu các tổ chức tín dụng giữ ổn định mặt bằng lãi suất. NHNN yêu cầu, các tổ chức tín dụng phải tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm ổn định mặt bằng lãi suất, góp phần ổn định thị trường tiền tệ theo đúng định hướng điều hành của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, thực hiện nghiêm các quy định về lãi suất, bao gồm niêm yết lãi suất tiền gửi, tuân thủ mức lãi suất tối đa theo quy định; tăng cường kiểm tra, kiểm soát nội bộ, kịp thời chấn chỉnh và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.
Một yêu cầu quan trọng được đặt ra là tiếp tục công bố công khai trên trang thông tin điện tử của từng tổ chức tín dụng các thông tin về lãi suất cho vay bình quân, chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và cho vay bình quân, cũng như lãi suất áp dụng đối với các chương trình, gói tín dụng và các khoản vay khác (nếu có). Việc minh bạch này nhằm tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng.
Giữ ổn định lãi suất bằng cách nào?
Ông Lưu Trung Thái, Chủ tịch HĐQT MB, nhận định: ổn định kinh tế vĩ mô là yêu cầu bắt buộc và trọng tâm của điều này chính là ổn định lãi suất. Nếu mặt bằng chi phí tài chính không được duy trì ở mức thấp, doanh nghiệp khó có động lực mở rộng đầu tư.
Theo ông, để kéo giảm lãi suất cho vay, các ngân hàng phải kiểm soát thật chặt ba nhóm chi phí lớn: chi phí quản lý – hiện ngân hàng quản trị tốt có tỷ lệ CIR khoảng 25% trong khi một số đơn vị lên tới 50%; chi phí vốn đầu vào – phụ thuộc vào thanh khoản và khả năng lưu thông vốn của nền kinh tế; và chi phí rủi ro nợ xấu đang chiếm tới 18–20% tổng chi phí toàn ngành. Khi ba cấu phần này được tối ưu, chi phí sẽ giảm và tạo điều kiện hạ mặt bằng lãi suất bền vững hơn. Về dài hạn, đại diện MB cho rằng Việt Nam cần xác định rõ các ngành kinh tế mũi nhọn để tập trung nguồn lực.
TS Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, nhấn mạnh rằng năm 2026 phải ưu tiên ổn định mặt bằng lãi suất. Nếu lãi suất tăng trở lại, mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ vô cùng thách thức. Ông cũng cho rằng cần đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế để phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn giữa các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. “Không thể có 10 đồng mà lĩnh vực nào cũng muốn làm, sẽ rất khó hiệu quả” - ông Lực nói.
Ở góc độ tổ chức tín dụng, Tổng Giám đốc BIDV Lê Ngọc Lâm cho biết năm 2026, với hạn mức tăng trưởng được giao khoảng 11–12%, các ngân hàng thương mại nhà nước dự kiến bơm thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng vào nền kinh tế. Nguồn vốn này sẽ ưu tiên cho nông nghiệp, xuất khẩu, công nghiệp chế biến chế tạo, năng lượng và chuyển đổi số – những lĩnh vực được xem là động lực tăng trưởng.
Song hành với nhiệm vụ cung ứng vốn, khối ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục đóng vai trò nòng cốt trong thực thi chính sách tiền tệ, điều tiết thanh khoản, ổn định thị trường ngoại hối và góp phần giữ mặt bằng lãi suất hợp lý, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân phục hồi sản xuất. Các ngân hàng cũng tăng cường kết nối với doanh nghiệp, đẩy mạnh cho vay ưu đãi theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước nhằm cải thiện khả năng tiếp cận vốn và giảm chi phí tài chính cho nền kinh tế.
Để hệ thống ngân hàng tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt và hỗ trợ các động lực tăng trưởng, đại diện BIDV cho rằng, một trong những ưu tiên là nâng cao năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại nhà nước theo hướng bền vững, linh hoạt, trong đó xem xét cho phép giữ lại toàn bộ lợi nhuận để chi trả cổ tức bằng cổ phiếu, gia tăng năng lực vốn. Bên cạnh đó, cần cho phép bán nợ xấu theo giá thị trường với quy trình minh bạch nhằm giải phóng nguồn lực đang bị “kẹt” bởi nợ xấu.
Về chính sách vĩ mô, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kết hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa để giữ mặt bằng lãi suất hợp lý và phân bổ hạn mức tín dụng phù hợp cho mục tiêu tăng trưởng cao. Việc triển khai các chương trình tín dụng trọng điểm quốc gia – nhất là trong hạ tầng, chuyển đổi năng lượng và chuyển đổi số – cần được đẩy nhanh, đồng thời nghiên cứu cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng để khuyến khích mở rộng tín dụng.