Hơn 70 triệu xe máy sắp phải kiểm định khí thải
Với kỳ vọng góp phần kiểm soát ô nhiễm không khí, hướng tới mục tiêu phát triển giao thông bền vững tại các đô thị lớn, thời điểm 30/6 tới đây, hơn 70 triệu xe mô tô, xe gắn máy đang lưu hành trên cả nước sẽ phải thực hiện kiểm định khí thải theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia mới.
Kiểm định khí thải cho xe mô tô, xe gắn máy
Đánh giá về việc kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy, TS Khương Kim Tạo - nguyên Phó Chánh Văn phòng Ủy ban An toàn giao thông quốc gia cho rằng, đây là giải pháp cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Để triển khai hiệu quả, cần làm tốt công tác tuyên truyền, đồng thời chuẩn bị đầy đủ các điều kiện kỹ thuật, cơ sở vật chất và cơ chế hỗ trợ phù hợp, tạo sự đồng thuận trong xã hội.
Việc ban hành và áp dụng quy chuẩn khí thải mới đối với xe mô tô, xe gắn máy được đánh giá là bước tiến quan trọng trong nỗ lực giảm phát thải từ giao thông, một trong những nguồn gây ô nhiễm không khí chủ yếu tại các đô thị lớn, hướng tới mục tiêu phát triển giao thông bền vững, thân thiện hơn với môi trường trong những năm tới.
Theo đại diện của Cục Đăng kiểm Việt Nam (Bộ Xây dựng), hiện cả nước có hơn 70 triệu xe mô tô, xe gắn máy đang lưu hành. Để đáp ứng nhu cầu kiểm định, ước tính cần khoảng 5.000 cơ sở đủ điều kiện kiểm định khí thải xe gắn máy trên toàn quốc. Đây là thách thức không nhỏ trong bối cảnh chuyển đổi xanh đang trở thành chiến lược quốc gia, đòi hỏi sự chuẩn bị đồng bộ về hạ tầng, nhân lực và cơ chế chính sách. Trong khi đó theo giới chuyên gia kinh tế, việc hơn 70 triệu phương tiện mô tô, xe gắn máy phải tiến hành kiểm định khí thải từ ngày 30/6/2026, có thể tác động nhất định đến đời sống của một bộ phận người dân. Nhưng trước yêu cầu cấp bách về nâng cao chất lượng không khí, việc kiểm soát khí thải từ xe máy là giải pháp không thể trì hoãn.
Mới đáp ứng khoảng 47% nhu cầu thực tế
Bà Phùng Minh Nguyệt - Phó Chủ tịch Hiệp hội Ô tô, Xe máy, Xe đạp Việt Nam (VAMOBA) cho biết, việc kiểm định khí thải phương tiện rất quan trọng, giúp người sử dụng nhận biết rõ tình trạng phát thải thay vì chỉ sửa chữa theo thói quen như trước đây. Khi có kiểm tra, đánh giá cụ thể, người dân sẽ được khuyến cáo lộ trình bảo dưỡng, sửa chữa phù hợp nhằm giảm phát thải. Trong thời gian tới, VAMOBA sẽ lựa chọn các doanh nghiệp uy tín đủ điều kiện về hạ tầng, thiết bị, nhân lực để tham gia kiểm định khí thải. Các đơn vị này sẽ được đào tạo, huấn luyện và chỉ được triển khai khi đạt tiêu chuẩn. Đồng thời, việc cấp ấn chỉ kiểm định cần do Cục Đăng kiểm Việt Nam quản lý thống nhất.
Trong khi đó, căn cứ số liệu thống kê từ Cục Đăng kiểm Việt Nam cho thấy, để triển khai kiểm định khí thải đối với xe mô tô, xe gắn máy tại hai đô thị lớn là Hà Nội và TPHCM, cần khoảng 1.000 dây chuyền kiểm định, trong đó Hà Nội cần 400 dây chuyền, TPHCM cần khoảng 600 dây chuyền. Tuy nhiên, hiện tổng số cơ sở đăng kiểm xe cơ giới và cơ sở bảo hành, bảo dưỡng có thể tham gia hoạt động này tại hai địa phương chỉ khoảng 470 cơ sở, mới đáp ứng khoảng 47% nhu cầu thực tế. Theo ông Nguyễn Tô An - Phó Cục trưởng Cục Đăng kiểm Việt Nam, thực trạng trên đòi hỏi phải huy động sự tham gia rộng rãi của hệ thống đại lý, cửa hàng sửa chữa mô tô, xe gắn máy. Trong đó, nòng cốt vẫn là các cơ sở bảo hành, bảo dưỡng, sửa chữa hiện có, đặc biệt là các đơn vị thuộc hiệp hội các nhà sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu mô tô, xe máy tại Việt Nam.
Ông Tô An cho biết thêm, hiện Cục Đăng kiểm Việt Nam cũng đã đề xuất thành lập Hiệp hội Bảo dưỡng, sửa chữa xe cơ giới Việt Nam, nhằm nâng cao chất lượng bảo dưỡng xe cơ giới. Bởi trong bối cảnh kiểm soát khí thải phương tiện, dự báo nhu cầu bảo dưỡng đúng quy trình, đúng kỹ thuật, kiểm soát chất lượng phụ tùng và chuẩn hóa tay nghề sẽ tăng nhanh thời gian tới. Theo ông An, an toàn kỹ thuật của phương tiện không thể chỉ trông chờ vào một thời điểm kiểm định theo chu kỳ, mà cần một hệ sinh thái vận hành thường xuyên, nơi bảo dưỡng, sửa chữa, kiểm tra, giám sát được tổ chức bài bản, có chuẩn nghề. Nhiều quốc gia phát triển đã thiết lập mô hình nhà nước thiết kế cơ chế để hiệp hội tham gia sâu vào quá trình chuẩn hóa nghề và nâng chất lượng dịch vụ.