Báo Đại Đoàn Kết Giáo dục

Hợp tác đại học – doanh nghiệp: Không thể chỉ dừng ở những bản ký kết

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Hợp tác đại học – doanh nghiệp: Không thể chỉ dừng ở những bản ký kết

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News
Hợp tác đại học – doanh nghiệp: Không thể chỉ dừng ở những bản ký kết
Sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TPHCM tham quan và trải nghiệm tại doanh nghiệp. Ảnh: UEF.

Hợp tác trường đại học (ĐH) - doanh nghiệp cần đi vào thực chất, không chỉ tạo cơ hội thực tập, tuyển dụng mà còn gắn đào tạo, nghiên cứu với nhu cầu sản xuất, ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Hiệu quả hợp tác cần được đo bằng kết quả cụ thể, thay vì số lượng biên bản ghi nhớ.

Gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn

Thực tế cho thấy, khoảng cách giữa nghiên cứu trong trường ĐH và nhu cầu của doanh nghiệp vẫn là bài toán cần giải quyết. Theo ông Trần Nam Tú - Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin (Bộ GDĐT) cho biết, các trường ĐH đóng góp 83,6% số công bố quốc tế của cả nước năm 2025, nhưng chỉ khoảng 9% kết quả nghiên cứu được khai thác thương mại.

Một trong những nguyên nhân được đại diện Bộ GDĐT chỉ ra là sự khác biệt trong cách tiếp cận: nhà trường thường tập trung vào nghiên cứu học thuật, trong khi doanh nghiệp cần sản phẩm có khả năng ứng dụng. Vì vậy, nghiên cứu cần xuất phát từ bài toán thực tiễn của doanh nghiệp và địa phương, với sự tham gia của cả ba chủ thể: Nhà nước kiến tạo cơ chế, nhà trường tổ chức nghiên cứu và đào tạo, doanh nghiệp đặt hàng, đầu tư và ứng dụng kết quả.

Thứ trưởng Bộ GDĐT Lê Quân nhấn mạnh yêu cầu doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào quá trình xây dựng chương trình, tổ chức thực hành và đánh giá năng lực người học. Đặc biệt, với những lĩnh vực công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, công nghiệp bán dẫn, vật liệu mới, nhân lực không chỉ cần kiến thức chuyên môn mà còn phải có khả năng tổ chức, vận hành công nghệ.

Theo Thứ trưởng, chương trình đào tạo cần được thiết kế theo các mô-đun, bảo đảm người học làm chủ những kỹ năng và năng lực công nghệ cụ thể sau mỗi giai đoạn. Doanh nghiệp có thể tham gia chia sẻ công nghệ, bồi dưỡng giảng viên, tổ chức thực tập và đánh giá kỹ năng tốt nghiệp.

Cùng quan điểm, ông Nguyễn Tiến Thảo - Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH (Bộ GDĐT) cho rằng, cần xác định rõ doanh nghiệp đang thiếu nhân lực ở vị trí nào, yêu cầu kỹ năng gì để các trường điều chỉnh chương trình đào tạo. Nhu cầu nhân lực trong những lĩnh vực mới như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo đang đặt ra yêu cầu kết nối chặt chẽ hơn giữa cơ sở đào tạo và thị trường lao động.

Đo hiệu quả bằng công nghệ và sản phẩm ứng dụng

Từ phía nhà trường, PGS.TS Trần Thị Mỹ Diệu - Hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, cho rằng doanh nghiệp cần trở thành một phần của môi trường đào tạo, cung cấp những bài toán, dữ liệu và công nghệ thực tế để giảng viên, sinh viên cùng tham gia giải quyết. Bà đề xuất xây dựng nền tảng kết nối, nơi doanh nghiệp đưa ra vấn đề cần xử lý, các nhóm nghiên cứu và người học có thể tìm kiếm cơ hội hợp tác phù hợp.

Cách làm này giúp sinh viên không chỉ tiếp nhận kiến thức mà còn được tham gia giải quyết những vấn đề thực tế, từ tối ưu sản xuất, quản trị dữ liệu đến phát triển sản phẩm mới. Đồng thời, doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận nguồn nhân lực tiềm năng ngay trong quá trình đào tạo.

Một ví dụ về kết nối quy mô lớn là Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội, với mạng lưới hợp tác hơn 3.000 tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước. Theo nhà trường, tỷ lệ sinh viên có việc làm sau 6 tháng đến một năm tốt nghiệp đạt 95%, một số ngành trên 98%. Tuy nhiên, bên cạnh tỷ lệ việc làm, hiệu quả hợp tác cũng cần được đánh giá qua mức độ phù hợp giữa ngành đào tạo và vị trí công việc, chất lượng việc làm của sinh viên.

Không chỉ dừng ở đào tạo, doanh nghiệp cần trở thành đối tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ của trường ĐH. Đây là hướng đi có ý nghĩa khi nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa có đủ nguồn lực để tự tổ chức nghiên cứu, phát triển công nghệ.

Thay vì hợp tác chung chung, các bên cần bắt đầu từ những bài toán cụ thể của sản xuất, kinh doanh. Doanh nghiệp đặt hàng nghiên cứu, cung cấp dữ liệu và môi trường thử nghiệm; nhà trường huy động chuyên gia, giảng viên, sinh viên để phát triển giải pháp. Kết quả hợp tác có thể là quy trình sản xuất được cải tiến, công nghệ được chuyển giao hoặc sản phẩm mới được đưa ra thị trường.

Tuy nhiên, để kết quả nghiên cứu đi vào thực tiễn, những vướng mắc về kinh phí, định giá công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ và phân chia lợi ích cần được giải quyết. Nếu thiếu cơ chế rõ ràng, doanh nghiệp sẽ khó mạnh dạn đầu tư, trong khi nhà trường cũng gặp khó khăn trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Về chính sách, Nghị định số 125/2026/NĐ-CP về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục ĐH đã đặt ra nguyên tắc hợp tác giữa Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp theo hướng bình đẳng, tự nguyện, cùng có lợi. Các cơ sở giáo dục ĐH được chủ động hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực theo đặt hàng và tạo điều kiện để giảng viên, người học tham gia hoạt động tại doanh nghiệp.

Thu Hương