Báo Đại Đoàn Kết Thị trường

HTX chuyển đổi số cần bắt đầu từ dữ liệu, dùng chung trước khi đầu tư riêng

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

HTX chuyển đổi số cần bắt đầu từ dữ liệu, dùng chung trước khi đầu tư riêng

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Ông Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, khi nói về chuyển đổi số trong HTX đã nhấn mạnh, cần làm rõ 3 vấn đề, chính sách nào đang có hiệu lực; nền tảng và dữ liệu nào có thể dùng chung; HTX cần chuẩn bị gì để được hỗ trợ.

Sáng ngày 7/10, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Tạp chí Kinh Doanh (VnBusiness) và Viện Khoa học Kinh tế Hợp tác tổ chức Diễn đàn “Chuyển đổi số trong Hợp tác xã: Từ dữ liệu sản xuất đến mở rộng thị trường” tại Hà Nội.

53% giám đốc HTX chưa qua đào tạo chuyên môn

Dẫn số liệu từ bài dẫn đề của Viện Khoa học Kinh tế hợp tác và báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ năm 2024, ông Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, cho biết 53% giám đốc HTX chưa qua đào tạo chuyên môn, trong khi chỉ 13% giám đốc HTX có trình độ đại học trở lên.

Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ. Ảnh: BTC.
Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ. Ảnh: BTC.

Theo ông, HTX hiện mới ở chặng đầu của quá trình chuyển đổi số. Trong hơn 23 điểm công nghệ theo Thông tư 17/2019/TT-BKHCN, HTX chỉ đạt khoảng 12-15 điểm. Đáng chú ý, chỉ 15% HTX sử dụng phần mềm quản trị. “Một HTX như vậy không thể tự thẩm định hợp đồng phần mềm”, ông Hạnh nói, đồng thời cho rằng hỗ trợ cần ưu tiên các giải pháp có thể thuê và sử dụng ngay.

Theo ông Hạnh, lợi ích của chuyển đổi số đã thể hiện ở đầu ra là thị trường, nhưng nền tảng dữ liệu ở đầu vào vẫn còn yếu. Số liệu cho thấy 35% HTX ứng dụng truy xuất nguồn gốc; giá trị nông sản có thể tăng 15-20% khi vào bán lẻ hiện đại và xuất khẩu; doanh thu từ kênh số bình quân ở các HTX đã chuyển đổi số đạt 12%. Trong khi đó, tỷ lệ HTX sử dụng phần mềm quản trị mới là 15%.

“Tôi cho rằng mua công nghệ ở đầu ra khi chưa có dữ liệu ở đầu vào là đầu tư lệch thứ tự”, ông Hạnh nêu quan điểm.

Theo ông Hạnh, các cơ chế hỗ trợ hiện nay có thể được nhìn thành 3 lớp, với mức độ chắc chắn khác nhau gồm: Những chính sách đã có hiệu lực và có thể áp dụng trực tiếp; những chính sách đã có khung nhưng cần địa phương cụ thể hóa; những nội dung còn đang ở dạng dự thảo.

Với những chính sách đã có hiệu lực, HTX có thể tiếp cận các nội dung như tư vấn chuyển đổi số, sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; phần mềm do Nhà nước phát triển và cấp miễn phí; xúc tiến thương mại, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc và Cổng thông tin HTX quốc gia.

Từ ngày 1/7/2026, Luật Chuyển đổi số và Nghị định 224/2026/NĐ-CP xác định HTX là đối tượng hỗ trợ cùng doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh. Các nội dung hỗ trợ gồm công cụ đánh giá mức độ chuyển đổi số theo ngành, danh mục nền tảng và giải pháp số, đào tạo kỹ năng số.

Ông Hạnh lưu ý 2 nguyên tắc: hỗ trợ theo mức độ số hóa thực tế và không trùng ngân sách cho cùng một nội dung trong cùng năm.

Một nội dung được ông Hạnh nhấn mạnh là việc khai thác các nền tảng số dùng chung. Theo ông, nguyên tắc nên là “dùng chung trước, đầu tư riêng sau”, trong đó có thể thuê thay vì tự xây dựng hoặc mua trọn gói.

Với hạ tầng số quốc gia, HTX không sử dụng trực tiếp nhưng được hưởng lợi thông qua các dịch vụ công trực tuyến, định danh điện tử, hóa đơn điện tử và chữ ký số. Tuy nhiên, ông Hạnh cho rằng mọi nền tảng dùng chung cần đáp ứng hai điều kiện: liên thông theo chuẩn dữ liệu quốc gia và HTX luôn xuất được dữ liệu của mình, qua đó không bị phụ thuộc vào một nhà cung cấp.

Từ các chính sách và công cụ hiện có, ông Hạnh đưa ra 3 bước để HTX có thể thực hiện.

Thứ nhất là kiểm tra điều kiện. HTX phải hoạt động hợp pháp theo Luật HTX 2023 và lập hồ sơ theo dõi các hỗ trợ đã nhận để chứng minh không trùng lặp.

Thứ hai là tự đánh giá mức độ sẵn sàng. HTX sử dụng công cụ đánh giá theo ngành để biết mình đang ở mức 1, 2 hay 3 và lựa chọn đúng gói hỗ trợ.

Thứ ba là chọn giải pháp từ danh mục, ưu tiên giải pháp thuê theo tháng, xuất được dữ liệu, có hỗ trợ tại chỗ và bảo đảm an toàn dữ liệu.

Đối với giai đoạn 2026-2030, ông Hạnh đề xuất 4 định hướng chính sách.

Thứ nhất là hỗ trợ theo bậc thang, mỗi mức trưởng thành có một gói riêng; trong đó, ở mức 1, HTX cần số hóa sổ sách và danh sách thành viên trước.

Thứ hai là một đầu mối dữ liệu. Theo đó, Liên minh HTX Việt Nam chuẩn hóa, kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia theo hướng “khai một lần, dùng nhiều nơi”.

Thứ ba là dùng chung, chuẩn hóa, xây dựng danh mục các nền tảng, giải pháp đã được thẩm định về an toàn dữ liệu và khả năng liên thông để HTX có thể lựa chọn mà không phải tự thẩm định.

Thứ tư là nhân lực tại chỗ. Với thực tế 53% giám đốc HTX chưa qua đào tạo chuyên môn, ông Hạnh cho rằng cần có mạng lưới tư vấn viên trong hệ thống Liên minh HTX.

Theo ông Hạnh, quá trình hỗ trợ HTX chuyển đổi số cần tránh 3 rủi ro.

Thứ nhất là có tiền hỗ trợ nhưng không có người dùng. Phần mềm có thể bị bỏ không vì HTX không có năng lực sử dụng. Giải pháp được ông Hạnh đưa ra là tăng cường nhân lực tại chỗ và ưu tiên giải pháp thuê.

Thứ hai là phụ thuộc vào một nhà cung cấp khiến dữ liệu của HTX bị giữ lại trên nền tảng và không chuyển đi được. Cách tránh là HTX phải xuất được dữ liệu và các nền tảng phải liên thông theo chuẩn chung.

Thứ ba là chạy theo công nghệ mới, đầu tư công nghệ mới trong khi nền tảng dữ liệu còn yếu. Theo ông, cần bắt đầu từ sổ sách, danh sách thành viên và nhật ký sản xuất.

“Cả ba rủi ro đều giảm khi đi đúng thứ tự: dữ liệu trước, công nghệ sau”, ông Hạnh nhấn mạnh.

Để phối hợp với Liên minh HTX Việt Nam, ông Hạnh đề nghị 3 việc: thí điểm bộ công cụ đánh giá mức độ chuyển đổi số theo nhóm ngành HTX; rà soát để các nền tảng dùng chung liên thông theo chuẩn dữ liệu quốc gia; cùng các bộ, ngành sớm có hướng dẫn rõ nguồn và thủ tục hỗ trợ ở cấp xã.

Cần xây dựng, triển khai hệ sinh thái chuyển đổi số dùng chung hỗ trợ HTX

Trong khi đó ông Trịnh Anh Tuấn, Viện Khoa học Kinh tế hợp tác, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo nói, một tín hiệu được đánh giá là khả quan là tỷ lệ thành viên sử dụng smartphone rất cao, đạt 4,67/5 điểm. Đây là một thuận lợi lớn cho việc chuyển đổi số và ứng dụng thương mại điện tử của HTX trong thời gian tới.

Ông Trịnh Anh Tuấn, Viện Khoa học Kinh tế hợp tác.
Ông Trịnh Anh Tuấn, Viện Khoa học Kinh tế hợp tác. Ảnh: BTC.

Mặc dù điều kiện thực tế phục vụ chuyển đổi số tại HTX đang có những điểm thuận lợi nhưng ông Tuấn cho rằng vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Điển hình, tỷ lệ nhân viên sử dụng internet cho công việc đạt 2,27 điểm, nhưng khi được hỏi chi tiết, các HTX cho biết công việc chủ yếu là gọi điện trao đổi với khách hàng, nhắn tin, gửi hình ảnh thông qua các ứng dụng trò chuyện như Zalo, Messenger bằng điện thoại di động. Trong khi đó, tỷ lệ nhân viên sử dụng máy tính cho công việc chỉ đạt 1,46 điểm.

Một điểm đáng chú ý khác là mức độ đào tạo về công nghệ thông tin (CNTT) còn rất thấp. Tỷ lệ nhân viên được đào tạo về CNTT “gần như không có”, chỉ đạt 1,08 điểm và 1,13 điểm. “Những con số này cho thấy việc tiếp cận công nghệ tại HTX hiện vẫn có sự chênh lệch giữa khả năng sử dụng thiết bị phổ biến như smartphone với việc ứng dụng công nghệ vào hoạt động chuyên môn, quản trị và sản xuất kinh doanh”, ông Tuấn nhấn mạnh.

Bức tranh về tần suất sử dụng các ứng dụng số cũng cho thấy quá trình chuyển đổi số của HTX mới ở bước đầu. Ông Tuấn kiến nghị, Chính phủ cần có cơ chế chính sách đặc thù, đầu tư hạ tầng số đồng bộ.

Đối với Liên minh HTX Việt Nam, cần chủ động xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ, các mô hình điểm về ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Về phía HTX, yêu cầu chủ động đổi mới tư duy, tham gia tích cực vào quá trình đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Thuý Hằng