Kết nối văn hóa biển qua không gian bảo tàng
Văn hóa biển từ lâu đã trở thành một bộ phận quan trọng trong tiến trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa biển không chỉ dừng lại ở nghiên cứu, sưu tầm mà còn cần được lan tỏa mạnh mẽ thông qua các hoạt động trưng bày bảo tàng, ứng dụng công nghệ số và kết nối cộng đồng.

Đưa hơi thở biển vào không gian trưng bày
Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài hơn 3.200km, với hàng nghìn đảo lớn nhỏ cùng nhiều cộng đồng cư dân sinh sống gắn bó mật thiết với biển từ hàng nghìn năm qua. Không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, biển còn là không gian văn hóa đặc sắc, nơi lưu giữ nhiều phong tục, tín ngưỡng, tri thức dân gian và những giá trị lịch sử quan trọng của dân tộc.
Từ các lễ hội cầu ngư, tục thờ cá Ông của ngư dân miền Trung, những làng nghề đóng tàu truyền thống cho đến các tri thức dân gian về đánh bắt hải sản, tất cả đã tạo nên một hệ sinh thái văn hóa biển phong phú và giàu bản sắc. Đây là những giá trị cần được bảo tồn, nghiên cứu và giới thiệu rộng rãi đến công chúng.
Tuy nhiên, trong bối cảnh đô thị hóa, biến đổi khí hậu và sự thay đổi trong đời sống xã hội, nhiều giá trị văn hóa biển đang đứng trước nguy cơ mai một. Không ít phong tục, tập quán truyền thống dần mất đi khi lớp cư dân trẻ ít có điều kiện tiếp xúc hoặc kế thừa từ thế hệ đi trước.
Trong bối cảnh đó, bảo tàng được xem là một trong những thiết chế văn hóa quan trọng góp phần lưu giữ ký ức biển và lan tỏa các giá trị văn hóa đến cộng đồng. Các không gian trưng bày chuyên đề về văn hóa biển không chỉ có ý nghĩa bảo tồn di sản mà còn góp phần giáo dục truyền thống, bồi đắp tình yêu quê hương, đất nước và nâng cao nhận thức cộng đồng về vai trò của biển trong đời sống dân tộc.
Ông Bùi Công Vinh - Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nghệ An cho rằng, văn hóa biển chính là sợi dây kết nối và là nền tảng quan trọng trong đời sống của cư dân. Do đó, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa biển thông qua các hoạt động trưng bày và số hóa đang trở thành yêu cầu cấp thiết.
Còn theo PGS.TS Lâm Bá Nam - Chủ tịch Hội Dân tộc học và Nhân học Việt Nam, văn hóa biển có vị trí đặc biệt quan trọng trong tiến trình lịch sử và văn hóa dân tộc Việt Nam. Việc nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và trưng bày các giá trị văn hóa biển cần được thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa thông qua sự liên kết giữa các cơ quan nghiên cứu, bảo tàng, địa phương và cộng đồng. Cần phải giới thiệu một cách sống động đời sống văn hoá biển tới các tộc người ở Việt Nam và đông đảo bạn bè quốc tế.
Chuyển đổi số mở rộng không gian của di sản biển
Nếu trước đây, bảo tàng chủ yếu giới hạn trong không gian trưng bày trực tiếp thì ngày nay, sự phát triển của công nghệ số đang mở ra nhiều cơ hội mới để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa biển.
Việc số hóa hiện vật, tư liệu, bản đồ, hình ảnh và các bộ sưu tập chuyên đề sẽ góp phần lưu giữ lâu dài những giá trị di sản, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho công tác nghiên cứu, giáo dục và quảng bá. Bên cạnh đó, các công nghệ như thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), mô hình 3D hay trí tuệ nhân tạo đang giúp thay đổi cách công chúng trải nghiệm bảo tàng. Thay vì chỉ quan sát hiện vật qua tủ kính, người xem có thể tương tác với các không gian mô phỏng, khám phá những con tàu cổ, các tuyến hải trình lịch sử hoặc đời sống của cư dân ven biển bằng nhiều giác quan khác nhau.
Đánh giá của các chuyên gia và nhà nghiên cứu, những ứng dụng này đặc biệt phù hợp với việc giới thiệu văn hóa biển. Bởi đây là loại hình di sản gắn với không gian rộng lớn, nhiều yếu tố khó tái hiện bằng hiện vật đơn lẻ. Công nghệ giúp rút ngắn khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại, giữa di sản và công chúng.
Theo PGS.TS Lâm Bá Nam, bảo tàng cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động trưng bày, khai thác hiệu quả những thành tựu kỹ thuật hiện đại để làm sống động đời sống văn hóa biển. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ không nên chỉ dừng lại ở các hiệu ứng trình diễn mà cần xác định rõ nguyên tắc cốt lõi là lấy chủ thể văn hóa làm trung tâm. Đồng thời, phải nhận diện đầy đủ tính đa dạng, phong phú của văn hóa biển Việt Nam, từ đó lựa chọn cách thức thể hiện phù hợp.
Cũng theo ông Nam, khi công nghệ số được đưa vào trưng bày về biển trong bảo tàng sẽ góp phần kiến tạo một không gian văn hóa biển chân thực và giàu trải nghiệm. Trong khi không gian bảo tàng vốn hữu hạn so với sự rộng lớn của biển cả, công nghệ có thể giúp tái hiện những lớp không gian đa chiều, tạo cảm giác nhập vai, giúp khách tham quan như được hòa mình vào môi trường biển và đời sống văn hóa của các cộng đồng cư dân ven biển. Tùy theo điều kiện thực tế, các bảo tàng có thể xây dựng những không gian trưng bày tổng thể về văn hóa biển hoặc phát triển các chuyên đề chuyên sâu nhằm làm nổi bật từng khía cạnh đặc trưng của di sản văn hóa biển Việt Nam.
Khi những câu chuyện về biển được kể bằng ngôn ngữ của công nghệ, bằng các hình thức trưng bày sáng tạo và giàu trải nghiệm, văn hóa biển sẽ không còn là những giá trị nằm yên trong tư liệu hay hiện vật, mà trở thành nguồn lực văn hóa sống động, góp phần nuôi dưỡng tình yêu biển đảo, ý thức gìn giữ di sản và khơi dậy khát vọng vươn ra biển lớn của dân tộc trong thời đại mới.