Khao khát và dại khờ
Huyền thoại công nghệ thế giới, người sáng lập và là CEO của hãng Apple lừng lẫy toàn cầu, ông Steve Jobs (1955 – 2011) đã truyền cảm hứng cho hàng triệu con người trong thời đại mới qua một danh ngôn bất hủ: “Hãy luôn khao khát, hãy cứ dại khờ” (nguyên văn tiếng Anh: Stay Hungry, stay Foolish). Thật cô đọng biết bao, phong phú biết bao, kích động biết bao lời động viên của Steve Jobs. Tại các cuộc Hội thảo về công nghệ hiện đại trong thế kỷ XXI này, người ta thường treo khẩu hiệu thật lớn của Steve Jobs: “Stay Hungry, stay Foolish”. Qua lời dặn của Steve Jobs ta thấy ngay: khao khát và dại khờ thường đi đôi với nhau, vì thế phải nhờ đến các danh nhân tiền bối soi sáng thêm cho ý kiến này của Jobs.

Trước hết xin trích dẫn danh ngôn của nhà thơ người Pháp, ông Edmond Rostand (1868 – 1918) về mối liên quan của khao khát và dại khờ khi ông viết: “Chính trong đêm tối mà mơ tưởng đến ánh sáng mới thấy đẹp”. Câu này rất thú vị và dễ hiểu. Một em bé con nhà nghèo ở nông thôn mơ ước sau này thành cô giáo để đứng trên bục giảng bài cho các con em nông dân, mơ thành bác sĩ, thành kỹ sư ... thì quả thật cũng giống như trong đêm tối mà mơ tưởng đến ánh sáng. Mơ ước, mơ tưởng là cần thiết vì nó là động lực, là hướng đi để mong có ngày thực hiện được, tuy rằng lúc đang mơ ước là dại khờ, là viển vông, là mong đợi, nhưng rất cần thiết phải có, phải nghĩ đến một ngày mai tốt hơn, đẹp hơn, cao hơn ngày hôm nay. Còn nếu ai cứ an phận, chịu cảnh đêm tối mãi mà không dám ước mơ gì hết thì suốt đời ngập chìm trong số phận, an phận với cái nghèo, cái dốt mà không dám vượt lên chính mình.
Trong sách dạy kỹ năng sống tích cực là có hướng đến tương lại cho con người, ai cũng nhớ đến danh ngôn về ước muốn và nỗi lo lắng, suy tư cho cái ước muốn ấy của triết gia Thomas Corneille (1625 – 1709): “Tôi sợ cái gì tôi ước muốn và ước muốn cái gì tôi sợ”. Tại sao như thế? Rất dễ hiểu vì một đằng là khao khát, là ước muốn, là cố gắng phấn đấu cho ngày mai, một đằng là những nỗi sợ, những khó khăn đã nhìn thấy và những khó khăn chưa nhìn thấy. Liệu ta có vượt qua được hay không?
Bàn luận về “cái khao khát” và “cái dại khờ” trong tâm trí mỗi con người, nhiều triết gia tiền bối đã giúp ta, nhắc nhở ta qua nhiều góc nhìn, qua nhiều quan điểm khác nhau. Ngạn ngữ cổ của Nga có một nội dung rất sâu sắc là: “Con chồn đếm những con gà trong giấc mộng”.Vậy nếu con chồn không dại khờ đếm những con gà trong giấc mộng thì liệu có cái gì kích thích nó tiếp tục đi săn đuổi lũ gà rừng hay gà nhà để hy vọng cũng có lúc bắt được lũ gà như trong giấc mơ của nó không?
Như đã trình bày ở trên, triết gia Thomas Corneille đã nói sát nghĩa hơn về cái khao khát và cái lo sợ, dại khờ của khao khát là: “Tôi sợ những gì tôi ước muốn nhưng lại luôn ước muốn những gì tôi sợ”. Đó là một mâu thuẫn thống nhất. Phải có mâu thuẫn ấy vì cuộc sống phức tạp, không hề đơn giản. Nhưng nếu ta không ước muốn thì làm gì còn động lực, còn hy vọng mà phấn đấu.
Triết gia cổ đại La Mã gốc Syria, ông Publilius Syrus (thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên) thì thận trọng nhắc nhở: “Nếu anh muốn lên được chỗ cao nhất thì hãy khởi sự từ chỗ thấp nhất”. Đây là lời khuyên rất cũ, rất cổ nhưng lại tuyệt đối đúng đắn và hợp với quy luật phát triển sự vật cả về tự nhiên và xã hội học.
Triết gia Terence (khoảng năm 195/185 đến năm 159 trước Công nguyên) thì khuyên con người khi có ước mơ, hoài bão, khao khát, mong muốn nên thực tế, nhìn nhận rõ hoàn cảnh và năng lực của mình qua danh ngôn rất đáng quý là: “Vì không thể làm được những gì anh ao ước, anh nên ao ước những gì anh có thể làm”. Lời dạy của Terence làm chúng ta cảm động vì tính thực tế và nhân ái của lời dạy như ruột thịt, như sẻ chia, như đồng cảm ấy.
“Ta vẫn khao khát, ta vẫn dại khờ”, nhưng ta phải biết giới hạn của khao khát, nhưng ta phải biết giới hạn của dại khờ. Đó chính là bài học của triết học thực hành vừa được đề cập trong những nội dung đã nêu ở trên.
Đến đây cần mổ xẻ, phân tích sâu thêm về cái Khao khát và cái Dại khờ, hình như chúng là đôi bạn đồng hành khó tách nhau ra được. Một điều rất dễ nhìn thấy là: nếu ai khao khát điều gì cũng đều thành công, thành đạt thì còn gọi gì là đấu tranh sinh tồn, còn gọi gì là nỗi vất vả trong cuộc sống mưu sinh với cơm, áo, gạo ,tiền, hay như nhà thơ Xuân Diệu đã từng cảnh báo: “Cơm áo không đùa với khách thơ”.
Triết gia người Thụy Sĩ, ông Johann Karpar Lavater (1741 – 1801) đã từng cảnh báo rằng: “Những ước muốn thật sự của ta thì ít, mà sự mơ tưởng của ta thì thật bao la”. Cũng một dòng suy nghĩ về khao khát và dại khờ, nhà khai quốc Hoa Kỳ, ông Benjamin Franklin (1706 – 1790) đã phát hiện ra một quy luật mang tính triết học và thực tiễn sâu sắc là: “Đè nén cái khao khát đầu tiên thì dễ dàng hơn là làm thỏa mãn những khao khát tiếp sau đó”. Câu này rất trùng hợp với danh ngôn của một tác giả châu Âu là: “Cứ ăn đi rồi sẽ ngon miệng”.
Đến đây cần một số cắt nghĩa và lý giải. Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi khi ta mệt mỏi, bệnh tật, thường có lời động viên là: “Cố ăn một chút đi cho lại sức, có khi lại thấy ngon miệng thì sao?”, nên người bệnh sẽ cố ăn một chút, rồi cố thêm tí nữa, tí nữa sẽ xong bữa cơm. Trong triết học, cắt nghĩa câu”cứ ăn đi rồi sẽ ngon miệng” rất sâu sắc và thông thái là: Nếu ai chịu nhận hối lộ, tham nhũng vặt, từng cái phong bì nhỏ, sau thấy “ngon miệng” lại vòi vĩnh để nhận tiền đút lót nhiều hơn và cái kết là dẫn đến bản án hình sự, tù tội là chắc chắn. Vì thế lời dạy của Franklin là phải biết đè nén cái khao khát đầu tiên, tức là phải biết ngừng lại, có giới hạn những ham muốn, những lợi ích vật chất, phải học kỹ năng “từ chối”, phải thông cảm với những người yếu thế qua câu “của đau, con xót” mà biết từ chối quà cáp biếu xén khi giúp đỡ cho ai được việc gì. Nên biết từ chối để giữ mình trong sạch, an toàn cho hiện tại và tương lai. Cái nào hơn, cái nào khôn ngoan, cái nào dại dột không phải ai cũng nghĩ ra được.
Đến đây nên đi sâu hơn nữa để phân tích cái lợi, cái hại, cái trước mắt và cái lâu dài của ước muốn, của khao khát, của mơ ước. Đại triết gia người Anh, ông George Bernard Shaw (1856 – 1950) có một tổng kết làm chấn động cách suy nghĩ thông thường của con người, đó là: “Có hai bi kịch trong đời, một là không đạt được những mong muốn của lòng ta thèm khát, hai là chiếm đoạt được nó”. Chao ôi, ai cũng nhớ đến Bernard Shaw với câu danh ngôn bất hủ này của ông. Phương Đông có câu: “Trong cái may có cái rủi”, hoặc “Trong cái rủi có cái may”.
Từ cái “khao khát” luôn đi kèm với cái “dại khờ”, con người tiến hóa dần dần và đã nhìn thấy hai mặt của một vấn đề, mặt phải và mặt trái của một đồng xu, mối liên quan giữa phúc và họa. Dân gian Việt Nam có câu cửa miệng: “Chưa chắc”. Câu “Chưa chắc” được dùng phổ biến đến mức trở thành câu nói thông dụng hàng ngày. Thí dụ: Mất 500 nghìn mua vé đi câu ở hồ thả cá, chưa chắc đã kiếm được con cá nào, hoặc: Tốt nghiệp Đại học xong, chưa chắc đã xin được việc làm, hoặc: Trước khi cưới yêu nhau là thế, chưa chắc gia đình đã hạnh phúc được bền lâu, nhỡ sau một thời gian cả hai bên đều chán nhau, dẫn đến ly hôn thì sao, ai biết trước được.
Qua những trao đổi, phân tích đã nêu ở trên, để khép lại bài viết cần nhớ đến câu danh ngôn của cổ học Tinh hoa Đông phương đã có từ hàng ngàn năm nay là: “Ngật đắc khổ, trung khổ, phương vị nhân thượng nhân” (tạm dịch: Muốn làm được người hoàn hảo, phải biết nếm đủ vị đắng cay). Như vậy, dù có dại khờ, có đắng cay biết bao nhiêu, chúng ta cũng nhất định phải khao khát, phải ước mơ, phải có hoài bão trong cuộc sống hàng ngày để ngày càng trở nên hoàn hảo hơn, ngày càng trở nên vững vàng hơn trong cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của xã hội đương đại.