Khi sinh kế của người dân trở thành sức mạnh nơi biên giới
Sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã không chỉ gần dân hơn trong giải quyết thủ tục hành chính mà còn đứng trước yêu cầu lớn hơn: chính quyền phải thực sự nắm được đời sống, nguyện vọng và khả năng phát triển kinh tế của từng cộng đồng dân cư để đồng hành, mở đường cho người dân vươn lên.
Chính quyền tìm hướng đi cho dân
Ở Môn Sơn, từ ngôi nhà sàn làm homestay, nghề dệt thổ cẩm được khôi phục đến việc đưa lao động đi học nghề, vào các khu công nghiệp, đi làm việc ở nước ngoài…, chính quyền cơ sở đang tìm cách biến những tiềm năng sẵn có thành cơ hội tạo thu nhập. Ở một xã biên giới còn 638 hộ nghèo, chiếm 15,35%, chăm lo đời sống nhân dân vì thế không chỉ là giảm một con số hộ nghèo. Đó còn là cách xây dựng niềm tin, tạo sức mạnh cộng đồng và củng cố “thế trận lòng dân” từ chính những gia đình đang từng ngày tìm cách làm ăn, thoát nghèo.

Bản Xiềng nằm giữa núi rừng Môn Sơn, nơi những ngôi nhà sàn truyền thống của người Thái vẫn hiện diện như một phần không thể thiếu của đời sống cộng đồng. Trong một ngôi nhà như thế, vợ chồng chị Đặng Thị Nguyệt và anh Lô Văn Thủy đã nhìn thấy một hướng làm ăn mới. Từ ngôi nhà truyền thống của gia đình, anh chị mạnh dạn cải tạo thành homestay. Kiến trúc nhà sàn được giữ lại, chỉ bổ sung những hạng mục cần thiết như phòng nghỉ, khu vệ sinh, không gian sinh hoạt chung và nơi đón khách. “Làm homestay không chỉ để có thêm thu nhập mà còn để giới thiệu với du khách về cuộc sống, văn hóa và cảnh đẹp quê mình”, chị Nguyệt chia sẻ.
Một ngôi nhà vốn chỉ phục vụ cuộc sống gia đình nay có thêm khả năng tạo thu nhập. Những món ăn truyền thống của người Thái trở thành một phần trải nghiệm. Không gian nhà sàn, phong tục, tập quán và cảnh quan sông Giăng, Pha Lài cũng được đưa vào hành trình khám phá của du khách.

Dẫn khách đến trải nghiệm các homestay, chị Lương Mai - Cán bộ Văn hóa xã Môn Sơn cho biết, để một mô hình nhỏ của người dân có thể đứng vững, không thể chỉ dừng ở việc “có nhà thì mở cửa đón khách”. Người dân cần được hướng dẫn cách làm du lịch, kết nối điểm đến, quảng bá sản phẩm và từng bước nâng chất lượng dịch vụ.
Theo thống kê, xã Môn Sơn hiện có một số mô hình phát triển kinh tế chủ lực được đông đảo bà con nhân dân hưởng ứng, học tập và làm theo như: Nuôi ong nội với 39 hộ tham gia, được triển khai tại 5 bản (Hua Nà 13 hộ; Tân Hợp 04 hộ; Cửa Rào 01 hộ; Làng Yên 11 hộ; Thái Hòa 10 hộ). Mô hình nuôi cá bọp với 40 hộ tham gia, được triển khai tại 7 thôn bản (Bản Xiềng 11 hộ; Hua Nà 5 hộ; Yên Hòa 4 hộ; Tân Hợp 6 hộ, Thái Sơn 2 có 1 hộ; Nam Sơn 8 hộ và Tân Hòa 5 hộ). Riêng mô hình trồng Na và Hồng xiêm với 64 hộ tham gia, triển khai tại 03 bản (Bản Hua Nà 21 hộ; Bản Mọi 24 hộ và Bắc Sơn 19 hộ). Đáng chú ý, mô hình nuôi dúi với 68 hộ tham gia, triển khai tại 12 bản (Bản Xiềng 3 hộ; Bản Cằng 6 hộ; Bản Mét 3 hộ và bản Trung Thành 1 hộ; Yên Hòa 2 hộ; Khe Ló 4 hộ; Thái Sơn 1 4 hộ; Thái Sơn 2 11 hộ; Bắc Sơn 11 hộ; Cửa Rào 3 hộ; Thái Hòa 12 hộ; Nam Sơn 8 hộ).
Bí thư Đảng ủy xã Môn Sơn Lương Đình Việt nhấn mạnh, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân là nhiệm vụ xuyên suốt trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội. Phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa và phát huy vai trò chủ thể của người dân. Theo cách ấy, chính quyền không làm thay dân. Chính quyền mở đường, kết nối, hỗ trợ về chính sách và thông tin; còn người dân là chủ thể lựa chọn mô hình phù hợp với điều kiện của gia đình mình.
Từ màu xanh của rừng đến cơ hội làm du lịch
Không chỉ ở Môn Sơn, tại vùng cao Huồi Tụ, chính quyền cơ sở cũng đang tìm cách khơi dậy những sinh kế mới từ tài nguyên bản địa. Gia đình ông Vừ Bá Chống hiện có khoảng 8 ha sa-mu, pơ-mu, chiếm hơn một nửa diện tích loại cây này của cả xã.
Hai mươi năm trước, những cây sa-mu, pơ-mu được trồng chủ yếu để lấy bóng mát cho chè Shan tuyết. Nay, nhiều cây đã có đường kính thân 30-40 cm, tạo thành những cánh rừng đẹp giữa núi cao. Thay vì chặt cây lấy gỗ, gia đình ông Chống nghĩ đến việc làm du lịch sinh thái.
Những dịp lễ, Tết, khách từ nhiều nơi tìm đến vãn cảnh, thưởng thức món ăn của đồng bào vùng cao. Những cánh rừng sa-mu, pơ-mu từ chỗ chỉ được nhìn như diện tích cây trồng nay bắt đầu được nhìn nhận như một tài sản có thể tạo sinh kế nếu biết khai thác đúng cách.

Điều đáng nói là mô hình còn rất mới. Kinh phí hạn chế, kinh nghiệm làm du lịch chưa nhiều, việc quảng bá trên mạng xã hội cũng chưa bài bản. Nhưng chính quyền Huồi Tụ đã nhìn thấy tiềm năng ấy và đang tính chuyện đưa gia đình ông Chống cùng một số hộ dân đi tham quan, học hỏi kinh nghiệm làm du lịch cộng đồng ở các tỉnh phía Bắc.
Chủ tịch UBND xã Huồi Tụ Dềnh Bá Lồng cho rằng, với địa bàn còn nhiều khó khăn, muốn phát triển phải biết dựa vào những lợi thế sẵn có và quan trọng nhất là phải huy động được người dân cùng tham gia. Nếu thành công, những cánh rừng được trồng cách đây hai thập kỷ sẽ không chỉ tạo giá trị về lâm nghiệp. Chúng có thể trở thành điểm đến, tạo việc làm, bán sản phẩm, dịch vụ và mở thêm một hướng thu nhập cho người dân. Giữ rừng để làm du lịch, làm du lịch để người dân có thêm lý do giữ rừng - đó chính là cách sinh kế có thể gắn với bảo vệ môi trường.
Từ một ngôi nhà sàn ở bản Xiềng, một nghề dệt được khôi phục, những lao động trẻ tìm được việc làm đến những cánh rừng sa-mu, pơ-mu ở Huồi Tụ đang được nhìn bằng một cách khác, có thể thấy một hướng đi đang hình thành ở các xã vùng cao: chính quyền lo cho dân không chỉ bằng những khoản hỗ trợ, mà bằng việc mở thêm cơ hội để dân tự làm giàu trên chính quê hương mình.