Báo Đại Đoàn Kết Xã hội

Khôi phục các chu trình tự nhiên của ĐBSCL thông qua các giải pháp dựa vào thiên nhiên

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Khôi phục các chu trình tự nhiên của ĐBSCL thông qua các giải pháp dựa vào thiên nhiên

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Ngày 23/1, Sở Nông nghiệp & Môi trường tỉnh An Giang phối hợp cùng WWF‑Việt Nam tổ chức hội nghị tổng kết giai đoạn 1 (2023–2025) và tham vấn các hoạt động giai đoạn 2 (2026–2029) của dự án “Khôi phục các chu trình tự nhiên của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thông qua các giải pháp dựa vào thiên nhiên” (gọi tắt là Mekong NbS).

Quang cảnh hội nghị. (ảnh: BTC)
Quang cảnh hội nghị. (ảnh: BTC)

Sau 3 năm triển khai, dự án đã chứng minh hiệu quả của một cách tiếp cận khác, “đón lũ”: để nước quay trở lại đồng ruộng, rừng và đất ngập nước, đúng với vai trò tự nhiên vốn có, nhằm bảo đảm sinh kế, an ninh nguồn nước và khả năng thích ứng dài hạn cho ĐBSCL.

Theo đó, trong giai đoạn 2023-2025, dự án Mekong NbS đã được triển khai thí điểm tại Khu bảo vệ cảnh quan Rừng Tràm Trà Sư và vùng đệm xung quanh. Tại đây, hơn 160 ha rừng tràm với hơn 109.000 loài cây bản địa đã được phục hồi tại vùng lõi.

Không chỉ trên bản đồ hay báo cáo kỹ thuật, những thay đổi này hiện hữu ngay ngoài thực địa. Ở nhiều khu vực vùng đệm Trà Sư, rừng tràm non dần khép tán, chim nước quay trở lại, và rừng trở thành “tấm đệm tự nhiên” giúp giảm áp lực ngập úng và rủi ro thiên tai cho cộng đồng xung quanh.

Dự án cũng thực hiện khảo sát toàn diện các nhóm cá, chim, lưỡng cư, bò sát và thực vật, xây dựng nền tảng dữ liệu khoa học phục vụ quản lý bảo tồn. Đáng chú ý, năng lực quản lý rừng và cộng đồng vùng đệm được tăng cường với hơn 900 người được tập huấn; công tác tuần tra bảo vệ rừng được số hóa và tích hợp vào hệ thống SMART, giúp nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát và bảo vệ đa dạng sinh học.

Bên cạnh đó, chiến lược quản lý nước mới đã được xây dựng, mô phỏng chế độ thủy văn của sông Mekong với nhịp 6 tháng ngập - 6 tháng khô. Ba trạm quan trắc tự động được lắp đặt để hỗ trợ điều chỉnh mực nước, đặc biệt trong mùa khô thông qua hệ thống cống điều tiết. Đây là các can thiệp quan trọng giúp tăng khả năng phục hồi của hệ sinh thái rừng tràm, cải thiện chức năng trữ nước và tạo sinh cảnh cho các loài bản địa.

Song song với bảo tồn, dự án cũng thử nghiệm các mô hình sinh kế dựa vào lũ, duy trì ngập lũ theo mùa nhằm tăng độ phì nhiêu đất và thí điểm các hệ thống canh tác kết hợp lúa-cá-sen-du lịch sinh thái trên diện tích 235,2 ha.

Kết quả cho thấy lượng phù sa bồi tụ đạt 3-5 tấn/ha, cao gấp nhiều lần so với canh tác lúa vụ ba, đồng thời mang lại thu nhập từ 50-100 triệu đồng cho các tổ nhóm nông dân tham gia. Nguồn quỹ xoay vòng hỗ trợ tín dụng nhỏ của dự án cũng đã giúp hơn 100 phụ nữ mở rộng sản xuất và phát triển sinh kế mùa lũ.

 “Các mô hình sinh kế mùa lũ phù hợp với chiến lược phát triển ngành thủy sản giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 của tỉnh An Giang. Trong thời gian tới ngành NN&MT khuyến khích các địa phương có tiềm năng khai thác thủy sản mùa lũ mở rộng diện tích, góp phần phát triển nông nghiệp thuận thiên theo Nghị Quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL.”, ông Trần Thanh Hiệp - Phó Giám đốc Sở NN&MT tỉnh An Giang cho biết.

Ông Trần Thanh Hiệp - Phó Giám đốc Sở NN&MT tỉnh An Giang phát biểu tại Hội nghị. (ảnh: BTC)
Ông Trần Thanh Hiệp - Phó Giám đốc Sở NN&MT tỉnh An Giang phát biểu tại Hội nghị. (ảnh: BTC)

Tại hội nghị, WWF đã tham vấn với các đối tác địa phương về mục tiêu của giai đoạn 2, bao gồm phục hồi hoặc cải thiện quản lý hơn 5.830 ha gồm rừng, đất ngập nước, vùng canh tác lũ và hệ sinh thái đồi núi tại khu vực Tứ giác Long Xuyên; ưu tiên mở rộng tối thiểu 1.000 ha nông nghiệp sinh thái và sinh kế dựa vào lũ tại An Giang theo định hướng “2 năm 5 vụ, 3 năm 8 vụ”; đẩy mạnh công nghệ hoá công tác bảo tồn.

Đồng thời, xây dựng hồ sơ kỹ thuật cho khoảng 730 ha rừng tại Núi Sam, Thoại Sơn và Tức Dụp nhằm thúc đẩy thành lập khu bảo vệ cảnh quan mới. Trọng tâm xuyên suốt là tái lập chu trình tự nhiên, tăng khả năng trữ nước - bổ sung phù sa - cải thiện chất lượng đất, qua đó hỗ trợ sinh kế bền vững cho cộng đồng, trong đó có các nhóm dễ bị tổn thương và cộng đồng Khmer địa phương.

“Dự án Mekong NbS đang góp phần thúc đẩy tái cơ cấu nông nghiệp theo định hướng thích ứng - sinh thái - hiệu quả; đồng thời, chúng tôi kỳ vọng đây sẽ là mô hình có thể nhân rộng tại ĐBSCL và các quốc gia như Campuchia, Lào, Thái Lan, đóng góp thiết thực cho Chiến lược Tăng trưởng xanh quốc gia và các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) của Liên Hợp Quốc.”, bà Lưu Thị Lan - Quản lý dự án của WWF-Việt Nam nhận định. 

Thanh Tiến