Làng số: Từ mã QR đến cơ hội phát triển
Mã QR ở đình làng, lớp học kỹ năng số tại nhà văn hóa thôn, thanh toán điện tử ở chợ quê... đang dần trở nên quen thuộc tại nhiều địa phương ngoại thành Hà Nội. Cùng với sự hiện diện của công nghệ là những cơ hội mới trong phát triển kinh tế, gìn giữ văn hóa và nâng cao chất lượng sống của người dân.
Từ lớp học kỹ năng số đến “mã QR kể chuyện”
Những ngày gần đây, tại nhà văn hóa thôn Hữu Vĩnh, xã Hòa Xá (Hà Nội), các buổi hướng dẫn kỹ năng số cho người dân diễn ra đều đặn. Trong các buổi học, người dân được hướng dẫn cách quét mã QR, thanh toán điện tử, sử dụng dịch vụ công trực tuyến hay khai thác các tiện ích trên điện thoại thông minh.
Cùng với đó, người dân trong thôn đang tham gia ghi hình, thu thập tư liệu về các di tích như đền Đức Thánh Cả, đình Xuân, đình Thu, chùa Thụy Long để từng bước số hóa các địa điểm văn hóa của địa phương.
Theo ông Dương Văn Việt - Bí thư Chi bộ, Tổ trưởng Tổ chuyển đổi số cộng đồng thôn Hữu Vĩnh, xây dựng làng số là quá trình thay đổi nhận thức, hình thành kỹ năng số và tạo thói quen sử dụng công nghệ trong cộng đồng dân cư.
Từ cách tiếp cận đó, xã Hòa Xá lựa chọn bắt đầu từ những nhu cầu thiết thực nhất của người dân. Người dân được hỗ trợ sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, tiếp cận các nền tảng số và các kênh thông tin chính thống của địa phương.
Bà Phùng Thị Mai Thu - Phó Chủ tịch UBND xã Hòa Xá, cho biết, việc triển khai mô hình làng số góp phần nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, tăng cường bảo đảm an ninh trật tự và xây dựng cộng đồng dân cư văn minh, hiện đại.
Sự thay đổi ấy có thể cảm nhận từ những điều rất gần gũi. Chị Nguyễn Thị Thêm ở thôn Hữu Vĩnh chia sẻ, dù làm việc tại khu công nghiệp cách nhà nhiều cây số nhưng vẫn cập nhật đầy đủ thông tin của thôn, xã qua nhóm Zalo cộng đồng. Những thông báo trước đây phát trên hệ thống loa nay được chuyển tải nhanh chóng trên môi trường số.
Tại xã Hát Môn, chuyển đổi số cũng được đưa vào hoạt động của hệ thống Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội. Các nhóm Zalo cộng đồng được duy trì để truyền tải thông tin, lấy ý kiến người dân, tiếp nhận phản ánh và tăng cường giám sát xã hội. Địa phương đồng thời đẩy mạnh quảng bá các sản phẩm OCOP, sản phẩm đặc trưng trên môi trường số nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế nông thôn.
Một điểm sáng khác là thôn Giang Soi, xã Vân Đình. Tại đây, 32 bức tranh đại đoàn kết được gắn mã QR. Người dân và du khách chỉ cần sử dụng điện thoại thông minh để tìm hiểu lịch sử, văn hóa và những câu chuyện gắn với vùng đất này.
Bí thư Chi đoàn thôn Giang Soi Bùi Văn Hiếu cho biết, đoàn viên thanh niên đã trực tiếp thu thập hình ảnh, tư liệu tại các di tích, gặp gỡ các bậc cao niên, chức sắc tôn giáo để ghi lại ký ức và những câu chuyện của làng quê, sau đó chuyển đổi thành hệ thống “mã QR kể chuyện”.
Theo TS Nguyễn Nhật Quang - Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ, Hiệp hội Doanh nghiệp phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin Việt Nam (VINASA), việc sử dụng mã QR để giới thiệu các giá trị lịch sử, văn hóa của địa phương là cách làm hiệu quả. Những câu chuyện về di sản do chính người dân sưu tầm, ghi lại và chia sẻ đã tạo thêm sự gắn kết với cộng đồng.
Gia tăng giá trị từ môi trường số
Chuyển đổi số ở nông thôn không dừng lại ở việc phổ cập công nghệ. Điều được nhiều địa phương quan tâm là làm sao để người dân nhìn thấy những lợi ích cụ thể trong đời sống và sản xuất.
Theo TS Nguyễn Nhật Quang, câu chuyện cốt lõi để người dân đồng hành lâu dài với làng số vẫn phải là nguồn lợi kinh tế. “Nếu người dân được trang bị nền tảng số, có khả năng tiếp cận môi trường số để từ đó cải thiện đời sống của bản thân và gia đình, thì đó mới là ý nghĩa cốt lõi. Khi ấy, người dân sẽ thực sự cảm nhận được lợi ích thiết thực từ việc xây dựng làng số” - ông Quang nhấn mạnh.
Từ góc nhìn đó, chuyển đổi số đang mở ra nhiều cơ hội mới cho các sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm làng nghề và đặc sản địa phương.
TS Nguyễn Nhật Quang cho rằng giá trị của các đặc sản không chỉ nằm ở sản phẩm mà còn ở câu chuyện phía sau. Các làng nghề có thể đóng gói sản phẩm, tích hợp mã QR để người tiêu dùng tìm hiểu nguồn gốc, quy trình sản xuất và những câu chuyện văn hóa gắn với sản phẩm. Cách làm này có thể áp dụng cho nhiều đặc sản của Hà Nội như ô mai Hàng Đường, bánh cốm hay sen bách diệp Tây Hồ.
“Việc dùng mã QR để kết nối sản phẩm với những câu chuyện đã được số hóa sẽ giúp gia tăng mạnh mẽ giá trị cho tất cả sản phẩm đặc sản và làng nghề” - ông Quang nói.
Tại xã Thường Tín, những kết quả bước đầu của chuyển đổi số đang hiện rõ trong đời sống kinh tế. Địa phương đã thành lập 41 tổ chuyển đổi số cộng đồng tại 100% thôn, cụm dân cư. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026, các tổ này đã thực hiện hơn 3.000 lượt hỗ trợ người dân cài đặt ứng dụng số, sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán điện tử và khai thác các tiện ích trên nền tảng số.
Theo ông Nguyễn Văn Tản - Phó Chủ tịch UBND xã Thường Tín, hiện 85% hộ kinh doanh trên địa bàn đã sử dụng mã QR để thanh toán điện tử, 90% hộ dân có tài khoản ngân hàng hoặc ví điện tử. Nhiều hộ sản xuất, hợp tác xã đã tham gia các sàn thương mại điện tử, trong đó 56 hộ sản xuất nông nghiệp đã có gian hàng trực tuyến để quảng bá và tiêu thụ sản phẩm.
Song song với phát triển kinh tế số, các lớp Bình dân học vụ số được tổ chức thường xuyên, giúp người dân, nhất là người cao tuổi, từng bước làm quen với môi trường số. Những ứng dụng như VNeID, iHanoi hay eTax Mobile đang dần trở thành công cụ phục vụ cuộc sống hằng ngày.
Từ Hữu Vĩnh, Hát Môn, Giang Soi đến Thường Tín, các mô hình làng số đang được triển khai theo nhiều cách khác nhau nhưng cùng hướng tới mục tiêu giúp người dân tiếp cận công nghệ thuận lợi hơn, khai thác hiệu quả các nền tảng số trong đời sống và sản xuất. Khi những tiện ích số dần trở thành thói quen hàng ngày, quá trình chuyển đổi số ở nông thôn cũng có thêm nền tảng để phát triển bền vững.