Báo Đại Đoàn Kết Kinh tế

Lao động nền tảng số: Khoảng trống an sinh cần được lấp đầy

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Lao động nền tảng số: Khoảng trống an sinh cần được lấp đầy

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Hơn 90% người lao động được khảo sát tại Việt Nam coi công việc trên nền tảng số là nguồn thu nhập chính, nhưng chỉ khoảng 1/5 tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH). Thực tế này đặt ra yêu cầu nghiên cứu, hoàn thiện chính sách an sinh phù hợp với đặc điểm việc làm, thu nhập ngày càng linh hoạt trong nền kinh tế số.

Hơn 90% coi việc trên nền tảng là nguồn thu nhập chính

Ngày 22/9, tại Hà Nội, BHXH Việt Nam phối hợp với Ngân hàng Thế giới tổ chức Hội thảo quốc tế “Việc làm và an sinh xã hội cho người lao động làm việc trên nền tảng số tại Việt Nam”, với sự tham dự của đại diện các cơ quan quản lý, tổ chức quốc tế, chuyên gia và doanh nghiệp nền tảng số.

Theo thông tin được ông Christopher Sheldon, Giám đốc Quản lý Danh mục Đầu tư, Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Campuchia và Lào, chia sẻ tại Hội thảo, các doanh nghiệp nền tảng tại Việt Nam được ước tính tạo cơ hội việc làm cho khoảng 2 triệu người.

Kết quả khảo sát của Ngân hàng Thế giới đối với gần 5.000 lao động trên nhiều nền tảng số tại Việt Nam cho thấy, hơn 90% số người được khảo sát coi công việc trên nền tảng là nguồn thu nhập chính, trong khi chỉ khoảng 1/5 tham gia BHXH.

Toàn cảnh hội thảo. Ảnh: BHXHVN
Toàn cảnh hội thảo. Ảnh: BHXHVN

Khảo sát cũng ghi nhận nhu cầu được bảo vệ trước các rủi ro về sức khỏe, tai nạn, ốm đau và bảo đảm thu nhập khi về già. Nhiều người lao động sẵn sàng đóng góp vào hệ thống BHXH nếu chính sách dễ tiếp cận, linh hoạt và phù hợp hơn với đặc điểm thu nhập.

Những kết quả nghiên cứu này cho thấy, bên cạnh cơ hội việc làm và thu nhập do kinh tế nền tảng mang lại, việc bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động là vấn đề cần được quan tâm trong quá trình phát triển các hình thức việc làm mới.

Tuy nhiên, việc mở rộng diện bao phủ BHXH đối với lao động nền tảng số cũng đặt ra những thách thức riêng.

Người lao động có thể đồng thời làm việc trên nhiều nền tảng, chuyển đổi giữa việc làm nền tảng và việc làm truyền thống hoặc làm việc không thường xuyên. Thu nhập có thể biến động theo thời gian, khối lượng công việc và nhu cầu thị trường.

Ông Christopher Sheldon, Giám đốc Quản lý danh mục đầu tư, Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, Campuchia và Lào. Ảnh: BHXH VN
Ông Christopher Sheldon, Giám đốc Quản lý danh mục đầu tư, Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, Campuchia và Lào. Ảnh: BHXH VN

Mức độ tự chủ trong công việc và quan hệ giữa người lao động với doanh nghiệp cung cấp nền tảng cũng có sự khác biệt giữa các loại hình việc làm.

Những đặc điểm này đặt ra yêu cầu nghiên cứu, nhận diện đầy đủ các nhóm lao động nền tảng, làm rõ tính chất việc làm và quan hệ giữa các chủ thể liên quan, qua đó tạo cơ sở cho việc xác định hình thức tham gia BHXH phù hợp.

Chính sách BHXH tiếp tục được hoàn thiện, mở rộng cơ hội tham gia cho người lao động

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Phó Giám đốc BHXH Việt Nam Trần Đình Liệu nhấn mạnh, BHXH là một trong những trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội. Mở rộng diện bao phủ, tạo điều kiện để ngày càng nhiều người lao động được tham gia và thụ hưởng chính sách BHXH là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội tại Việt Nam.

Những năm qua, chính sách BHXH tiếp tục được sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng đối tượng tham gia, tăng tính linh hoạt và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân tham gia, duy trì thời gian đóng và thụ hưởng các chế độ BHXH.

Luật BHXH năm 2024 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã mở rộng thêm một số nhóm đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, đồng thời bổ sung các chính sách khuyến khích tham gia, góp phần tạo cơ hội để nhiều nhóm lao động được tiếp cận hệ thống an sinh xã hội.

Phó Giám đốc BHXH Việt Nam Trần Đình Liệu phát biểu tại hội thảo. Ảnh: BHXH VN.
Phó Giám đốc BHXH Việt Nam Trần Đình Liệu phát biểu tại hội thảo. Ảnh: BHXH VN.

Theo Phó Giám đốc Trần Đình Liệu, năm 2025, số người tham gia BHXH đạt trên 21,5 triệu người, tương ứng 45,1% lực lượng lao động trong độ tuổi. Trong 8 tháng đầu năm 2026, số người tham gia BHXH đạt trên 22,4 triệu người, tương ứng 46,7% lực lượng lao động trong độ tuổi.

Cùng với việc phát triển người tham gia BHXH, BHYT, BHXH Việt Nam chú trọng nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện chính sách, giải quyết kịp thời, đầy đủ các chế độ, quyền lợi cho người tham gia và thụ hưởng.

Tuy nhiên, sự phát triển của các hình thức việc làm linh hoạt, phi truyền thống tiếp tục đặt ra những yêu cầu mới đối với việc mở rộng diện bao phủ BHXH.

Đối với người lao động trên nền tảng số, cũng như các nhóm lao động làm việc theo hình thức khoán việc, theo ngày hoặc bán thời gian có thu nhập ổn định, việc nghiên cứu các cơ chế tham gia BHXH phù hợp với đặc điểm việc làm, thu nhập và quan hệ lao động có ý nghĩa quan trọng trong quá trình mở rộng diện bao phủ BHXH.

Cần thiết kế chính sách theo đặc điểm của từng nhóm lao động

Từ thực tiễn thị trường lao động, các tham luận tại Hội thảo tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý và thực tiễn đặt ra đối với chính sách BHXH dành cho người lao động trên nền tảng số.

Tại Hội thảo, đại diện Ngân hàng Thế giới chia sẻ kết quả nghiên cứu về mở rộng diện bao phủ BHXH cho người lao động trên nền tảng số tại Indonesia, cung cấp thêm thông tin tham khảo về các giải pháp tổ chức thực hiện chính sách đối với nhóm lao động có hình thức việc làm và thu nhập linh hoạt.

Ông Brendan Chia, Phụ trách Quan hệ công chúng và Chính sách khu vực tại Grab ở Singapore, trao đổi về BHXH trong nền kinh tế nền tảng tại Đông Nam Á, bổ sung góc nhìn từ phía doanh nghiệp cung cấp nền tảng.

Trong khi đó, ông Joseph Han, Nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Phát triển Hàn Quốc (KDI), trình bày trực tuyến về an sinh xã hội cho lao động trên nền tảng số thông qua nghiên cứu điển hình tại Hàn Quốc.

Những kinh nghiệm được chia sẻ tại Hội thảo cho thấy việc mở rộng an sinh xã hội đối với người lao động nền tảng cần được xem xét trên nhiều phương diện, từ thiết kế chính sách, xác định trách nhiệm đóng góp đến phương thức tổ chức thực hiện phù hợp với đặc điểm của từng nhóm lao động và điều kiện của mỗi quốc gia.

Trong đó, một số hướng tiếp cận được đặt ra để tiếp tục nghiên cứu như thiết kế mức đóng, phương thức đóng linh hoạt theo thu nhập và tần suất làm việc; bảo đảm tính liên tục của quá trình tham gia và quyền lợi an sinh xã hội khi người lao động chuyển đổi việc làm; nghiên cứu cơ chế chia sẻ trách nhiệm đóng góp giữa người lao động, doanh nghiệp nền tảng và Nhà nước.

Việc ứng dụng công nghệ số và khai thác dữ liệu phù hợp từ các nền tảng để hỗ trợ nhận diện đối tượng, xác định thu nhập, tính mức đóng và tạo thuận lợi cho quá trình tham gia các chương trình an sinh xã hội cũng là những vấn đề được quan tâm trao đổi. Đây là những kinh nghiệm và gợi mở có giá trị tham khảo, cần tiếp tục được nghiên cứu, đánh giá về cơ sở pháp lý, tính khả thi và mức độ phù hợp với điều kiện thực tiễn tại Việt Nam.

 

Lê Minh Long