Lương Đắc Bằng: Thức giả thời loạn
Sinh gặp buổi nhiễu nhương, dù đỗ đạt khoa bảng, làm quan to nhưng gặp cảnh hôn quân bạo chúa nên bậc thức giả ấy đành cùng người trong vương thất nổi lên phế truất. Bao nhiêu trăn trở hiến dâng bị vứt bỏ không khiến vị thức giả nản chí. Ông cáo quan lui về gieo trồng nhân tài. Và được những nhân tài kiệt xuất. Bậc thức giả ấy là Bảng nhãn Lương Đắc Bằng (1472 – 1516).
Tượng danh nhân Lương Đắc Bằng tại nhà thờ.
Trạng nguyên bảng nhãn khó phân
Lương Đắc Bằng là tên vua đặt cho Lương Ngạn Ích sau khi đỗ Bảng nhãn. Ông người làng Hội Triều (nay thuộc xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa). Ngày nay, khu nhà thờ và lăng mộ của ông tại quê hương vẫn được gìn giữ, hương khói bốn mùa. Năm 1994 khu lăng mộ và nhà thờ của ông đã được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia.
Lương Đắc Bằng là con của Giải nguyên Lương Hay (1401 – 1484) và bà Lê Thị Sử. Sau khi đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương, cụ Lương Hay không đi thi nữa mà ở nhà mở lớp dạy học. Học trò đến xin học rất đông. Trong số học trò có Trạng nguyên Lương Thế Vinh… Với bà Lê Thị Sử, thân mẫu Lương Đắc Bằng vốn dòng dõi nhà khoa bảng ở làng Vĩnh Trị. Bà ham thích văn chương, cho nên vừa là người vợ nội trợ đảm đang, lại vừa là người bạn cầm kỳ thi phú, cùng chồng dạy dỗ con cái.
Từ nhỏ Ngạn Ích thông minh xuất chúng, nổi tiếng là Thần Đồng đất Cổ Hoằng. Năm 1484, sau khi cha mất, theo lời cha dặn, cậu bé Lương Ngạn Ích 12 tuổi đã ra Bắc thụ nghiệp học trò cha mình là Trạng nguyên Lương Thế Vinh ở Cao Hương (Nam Định).
Năm 1495, Lương Ngạn Ích đỗ đầu kỳ thi Hương. Năm 1499, khi thi Hội, Lương Ngạn Ích lại đỗ đầu bảng. Tại cuộc thi đình, ba người đỗ đầu là: Đỗ Lý Khiêm, Lương Ngạn Ích, Nguyễn Khắc Kiệm. Việc truyền loa xướng danh diễn ra tại điện Kính Thiên. Bảng vàng treo cửa Đông Hoa…
Tương truyền, tại cuộc thi đình, trạng nguyên, bảng nhãn cho Lương Đắc Bằng và Đỗ Lý Khiêm khó phân ngôi thứ. Các quan bèn trình vua Lê Hiến Tông xem xét, quyết định. Vua bèn cho hai người làm một bài ứng chế. Hai người vẫn bằng điểm nhau. Vua lại ra thêm một đề là văn bái mạng. Vốn có tài, tính lại cương trực, Đỗ Lý Khiêm cho mình còn thua Lương Đắc Bằng nên cố ý làm qua loa. Vua xem thấy ý tứ thua xa các bài văn trước, nên hiểu dụng ý. Lương Đắc Bằng thấy vậy thì cũng xin chỉ đỗ Bảng nhãn, nhường danh vị Trạng nguyên cho Đỗ Lý Khiêm. Thấy hai người nhường nhau mãi, các quan bèn hiến kế xin vua vẽ một vòng tròn trên sân rồng rồi tung hai quyển từ trên cao xuống, quyển người nào vào vòng sẽ được trạng nguyên. Kết quả quyển của Đỗ Lý Khiêm vào vòng.
Tuy nhiên, còn một thuyết khác cho rằng, sở dĩ Lương Đắc Bằng bị xuống Bảng nhãn do Hoàng hậu can dự khuyên vua nên lấy người trọng trấn đỗ trạng nguyên.
Phế lập hôn quân
Thi đỗ, Lương Đắc Bằng ra làm quan. Ban đầu ông giữ chức Thị độc, sau bổ Tả Thị lang. Năm 1510 thăng Lại bộ Thượng thư (tương đương Bộ trưởng Bộ Nội vụ). Ông làm quan Lại bộ Thượng thư suốt bốn triều vua (Lê Hiến Tông, Lê Uy Mục, Lê Tương Dực, Lê Chiêu Tông). Tính ông vốn thẳng thắn cương trực, liêm khiết, xét việc có trí có nhân, nhìn xa trông rộng. Tương truyền, nhà ông chỉ có 5 gian nhà gỗ lợp lá kè, 2 gian bên trái ngăn làm buồng và là nơi sinh hoạt của gia đình, còn lại là nơi tiếp khách và dạy học.
Thời kỳ Lương Đắc Bằng ra làm quan là thời kỳ Nhà Lê suy vong. Sau đỉnh cao của vua Thánh (Lê Thánh Tông), các vua kế tiếp ham mê tửu sắc, ra sức ăn chơi, vơ vét của cải để xây nhà này điện nọ, nhân dân vô cùng cơ cực, đình thần chia nhiều phe cánh, nội bộ lục đục chém giết lẫn nhau...
Mặc dù vua Lê Hiến Tông ban tên Lương Đắc Bằng và thưởng cho ông bài thơ, tự ví thời kỳ thịnh trị Nghiêu Thuấn chính là thời này nhưng quả thực chính sự đã bắt đầu rối ren. Vua Lê Hiến Tông chưa kịp làm gì sửa sang triều chính thì băng hà. Vua Lê Uy Mục (1488 – 1509) nối ngôi. Vua ăn chơi vô độ, ham tửu sắc, tàn bạo giết hại nhiều người vô tội. Vì vậy Phó sứ thần Trung Quốc là Hứa Thiên Tích mới gọi vua là quỷ vương. Thêm vào đó, bọn hoạn quan thọc vào chính sự, kẻ ngoại thích là Khương Chủng, Nguyễn Bá Tuấn mặc sức chuyên quyền, pháp luật phiền hà, kỷ cương rối loạn, nông tang tiêu tàn, phong tục suy đồi, đời sống nhân dân điêu linh… Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Vua nghiện rượu, hiếu sát, hoang dâm, thích ra oai, tàn hại người tông thất, giết ngầm tổ mẫu, họ ngoại hoành hành, trăm họ oán giận, người bấy giờ gọi là quỷ vương, điềm loạn đã xuất hiện từ đấy”.
Trước tình cảnh không gì cứu vãn này, tháng 11 năm 1509, Lương Đắc Bằng theo Nguyễn Văn Lang phò tá Giản Tu công Oanh và viết “Hịch dụ đại thần bách quan”, tố cáo và kêu gọi mọi người khởi binh đánh vua Lê Uy Mục. Hịch văn xót xa, căm phẫn: “Bạo chúa Lê Tuấn, phận con thứ hèn kém, làm nhơ bẩn nghiệp lớn, lần lữa mới gần 5 năm mà tội ác đã đủ muôn khoé. Giết hại người cốt nhục, dìm hãm các thần liêu. Bọn ngoại thích được tin dùng mà phường đuôi chó ngang ngược làm bậy, người cứng cỏi bị ruồng bỏ mà kẻ đầu cá ẩn nấp nẻo xa. Quan tước đã hết rồi vẫn thưởng tràn không ngớt, dân chúng đã cùng khốn còn vơ vét chẳng thôi. Vét thuế khoá từng cân lạng, tiêu tiền của như đất bùn, bạo ngược ngang với Tần Chính. Đãi bề tôi như chó ngựa, coi dân chúng tựa cỏ rác ngạo mạn quá cả Nguỵ Oanh. Huống chi lại xây cung thất to, làm vườn hoa rộng. Xua dân đi trồng cây, giẫm theo vết xe đổ chất gò Hoa Cương đời Tống; lấp biển xây cung điện, nối gót thói u mê xây cung A Phòng nhà Tần. Công trình thổ mộc xây lên rồi thay đổi, thay đổi rồi xây lên, dân Hải Dương, Kinh Bắc mệt mỏi, lao đao; tông thất xa hoa, kiêu căng lại ngang ngược, ngang ngược lại kiêu căng, cõi tứ tuyên phiên trấn xôn xao, rối loạn. Cư dân nhức óc, cả nước đau lòng”.
Văn trị nước
Lê Uy Mục bị giết, Lê Oanh lên ngôi, Lương Đắc Bằng tưởng lập được minh quân nên ông dâng Trị bình thập tứ sách (14 kế sách trị nước). Mở đầu bài văn kế sách, ông chỉ rõ: “Thánh quân ngày xưa không cho thiên hạ thịnh trị mà quên lòng răn ngừa; hiền thần ngày xưa không thấy vui thành công mà quên lòng can gián. Vì thế thời Ngu Thuấn đã thịnh trị mà Bá Ích vẫn can vua: “Chớ ham nhàn rỗi, chớ đắm vui chơi, không trễ không lười, để công việc quốc gia bê trễ”. Đế Thuấn nghe lời mà ngăn ngừa những việc đáng răn, do đó đã trở thành bậc thánh lớn. Đời Văn Hán Đế dân đã giàu có đông đúc rồi mà Giả Nghị vẫn dâng kế sách nói rằng đất nước đang ở trong tình trạng “để lửa gần củi” Văn Đế nghe lời can này mà lo nghĩ việc đáng lo, do đó nên bậc vua hiền”. Lương Đắc Bằng phân tích tình hình đất nước từ khi vua lên ngôi: “Khí hòa thuận chưa điều tiết, việc binh đao chưa dẹp yên, triều cương chưa cất nhấc, quân chính chưa sửa sang, tai dị thường xuất hiện, đạo trời chưa được thuận, đạo đất chưa được yên, kẻ gian phi lén phát, bọn nghịch tặc manh lòng, lòng người chưa yên ổn...”.
14 kế sách ông dâng vua gồm: “1. Hết sức cảnh giới để dẹp điềm tai dị; 2. Hết lòng hiếu thảo để tỏ lòng trung; 3. Xa thanh sắc để làm gốc cho sự chính tâm; 4. Bỏ kẻ tà nịnh để trọng nguồn phong hóa; 5. Dè dặt việc cho quan tước để cẩn thận về việc khuyến trừng; 6. Tuyển bổ công bằng để đường làm quan được trong sạch; 7. Tiêu dùng phải dè dặt để giữ thói kiệm ước; 8. Khen người cho những người có tiết nghĩa để trọng đạo cương thường; 9. Cấm hối lộ để bỏ thói gian tham; 10. Sửa sang võ bị để thế nước được vững; 11. Kén chọn gián quan để cho người dám nói phấn khởi; 12. Bớt việc phục dịch để thỏa tình dân trông ngóng; 13. Hiệu lệnh phải nhất định để thống nhất lòng bốn phương; 14. Cẩn thận pháp độ để mở đường thịnh trị”.
Ai ngờ vua dần sa vào vết xe đổ nên không nghe theo những lời can gián. Nhân dân oán thán, gọi vua là vua lợn.
Tuy kế sách trên của Lương Đắc Bằng không được thực hiện nhưng lịch sử vẫn ghi nhận ông là một nhà cải cách xuất sắc hồi thế kỷ XVI. Những đề xuất của Lương Đắc Bằng mà ngày nay suy ngẫm ta vẫn thấy nhiều điều còn mang tính thời sự nóng hổi.
Vua gần nịnh thần, xa lánh hiền thần nên Lương Đắc Bằng cáo quan về quê dạy học. Ông dốc lòng đào tạo những lớp nho sĩ mới. Học trò của ông có những người nổi tiếng đỗ đạt và trở thành danh nhân của dân tộc như: Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thừa Hưu, Đinh Bạt Tụy… Đặc biệt, ông truyền dạy và trao cho toàn bộ Thái Ất thần kinh cho Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Phương pháp dạy học của Lương Đắc Bằng là hỏi đáp. Gia phả và nhiều tài liệu còn ghi lại cách dạy học của ông như: Luôn tạo ra một không gian thoả sức cho sự hăm hở hiểu biết, ham học hỏi của trò. Ông gợi ý các vấn đề để trò động não suy nghĩ, sau đó mới giải đáp tường tận những điều trò chưa hiểu, đôi khi vừa truyện trò về các tích xưa vừa học.
Con trai của Lương Đắc Bằng là Lương Hữu Khánh sau này theo học Nguyễn Bỉnh Khiêm và cũng trở thành một nhà khoa bảng, góp phần dựng lên nhà Lê trung hưng.